Chỉ bổ sung vị trí việc làm mới khi thực sự phát sinh nhiệm vụ
Hướng dẫn mới của Bộ Nội vụ nhấn mạnh yêu cầu các đơn vị tập trung rà soát thực chất để đề xuất điều chỉnh, tích hợp hoặc loại bỏ vị trí việc làm không còn phù hợp. Chỉ bổ sung vị trí việc làm mới khi thực sự phát sinh nhiệm vụ, bảo đảm đúng thẩm quyền...

Ảnh minh họa: Thu Hằng.
Theo nhiệm vụ được Ban Chỉ đạo của Chính phủ giao, Bộ Nội vụ vừa có hướng dẫn việc rà soát, hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm, xác định nhu cầu nhân lực và xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027-2031 thuộc khối Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp.
BỐN NỘI DUNG TẬP TRUNG RÀ SOÁT
Các cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện việc rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm, xác định nhu cầu nhân lực gồm: Cơ quan hành chính nhà nước; đơn vị sự nghiệp công lập (không bao gồm đơn vị sự nghiệp công lập nhóm 1, nhóm 2); cơ quan, tổ chức, đơn vị khác sử dụng ngân sách nhà nước.
Bộ, ngành, địa phương kế thừa kết quả rà soát chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền đã thực hiện theo các công văn số 1972, 2209, 2342 của Ban Tổ chức Trung ương, và danh mục vị trí việc làm, bản mô tả công việc và khung năng lực đã được cấp có thẩm quyền ban hành, phê duyệt theo quy định tại Nghị định số 361/2025/NĐ-CP, Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.
Bộ Nội vụ nêu rõ, chỉ kế thừa những kết quả còn phù hợp và đã được kiểm chứng. Tập trung rà soát thực chất để đề xuất điều chỉnh, tích hợp hoặc loại bỏ vị trí việc làm không còn phù hợp, chỉ bổ sung vị trí việc làm mới khi thực sự phát sinh nhiệm vụ, bảo đảm đúng thẩm quyền.
Việc rà soát, xác định vị trí việc làm phải xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, gắn với nhóm công việc tương đối ổn định và làm rõ 4 nội dung: Nội dung công việc; sản phẩm; người chịu trách nhiệm; năng lực cần thiết.
Đồng thời, phải gắn với kết quả sơ kết 1 năm thực hiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp theo Kết luận số 76-KL/TW ngày 1/7/2026 của Bộ Chính trị. Trên cơ sở đó, xác định nhu cầu nhân lực theo khối lượng, tính chất công việc và điều kiện thực hiện; không xuất phát từ biên chế, số người làm việc hiện có.
Kết quả xác định nhu cầu nhân lực là căn cứ xây dựng phương án biên chế. Khái niệm, phương pháp xác định vị trí việc làm được áp dụng thống nhất. Cách xác định phải phù hợp với tính chất công việc của từng khối, từng cấp (công chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, viên chức cung ứng dịch vụ sự nghiệp công), không áp dụng một danh mục hay một định mức nhân lực chung cho tất cả các cơ quan, đơn vị.
Các cơ quan, tổ chức, đơn vị phân công đầu mối chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện; chuẩn bị các văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; danh mục nhiệm vụ, vị trí việc làm đã được phê duyệt; số liệu về công việc, sản phẩm, nhân lực, biên chế hiện có và những thay đổi do phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số, tự chủ, thuê dịch vụ, xã hội hóa nếu có.
Các bộ, ngành, địa phương được yêu cầu phân công rõ nhiệm vụ, trách nhiệm đối với các đơn vị thuộc, trực thuộc theo đúng tinh thần chỉ đạo tại Kết luận số 107-KL/TW của Bộ Chính trị.
Theo đó, đơn vị trực tiếp sử dụng nhân lực chịu trách nhiệm kê khai, cập nhật, xác nhận và chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ về nhiệm vụ, sản phẩm, khối lượng công việc, sử dụng nhân lực hiện có của mình. Cơ quan, tổ chức, đơn vị tham mưu về tổ chức, biên chế chịu trách nhiệm kiểm tra báo cáo rà soát, kê khai của các đơn vị trực tiếp sử dụng nhân lực để xác định vị trí việc làm và nhu cầu nhân lực.
THỐNG NHẤT HỆ THỐNG VỊ TRÍ VIỆC LÀM
Theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ, việc xác định vị trí việc làm, nhu cầu nhân lực và quản lý biên chế phải bám sát các nguyên tắc nêu tại Kết luận số 107-KL/TW và Kết luận số 40-KL/TW của Bộ Chính trị, Hướng dẫn số 7-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương.
Trong quá trình thực hiện, các bộ, ngành, địa phương cần xác định đúng, đủ và thống nhất hệ thống vị trí việc làm là nhiệm vụ quan trọng nhất, có tính nền tảng của đợt rà soát.
Việc xác định phải xuất phát từ chủ trương, quyết sách chiến lược của Đảng, mục tiêu, yêu cầu phát triển của đất nước, của ngành, lĩnh vực và địa phương; từ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, công việc, sản phẩm, trách nhiệm và yêu cầu năng lực. Trên cơ sở đó, xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng phương án biên chế và làm căn cứ định hướng cải cách chính sách tiền lương.
Đặc biệt, không lấy số biên chế hiện có để hợp thức hóa hiện trạng; không đồng nhất một vị trí việc làm với một người hoặc đồng nhất số người quy đổi với chỉ tiêu biên chế được giao. Kiên quyết loại bỏ những vị trí việc làm riêng lẻ được tạo ra chỉ do công đoạn ngắn, nhiệm vụ đột xuất hoặc khác biệt về tên gọi.
Nhu cầu nhân lực được xác định trên cơ sở nhiệm vụ, sản phẩm, khối lượng, tần suất, mức độ phức tạp, chất lượng, thời gian, địa bàn, điều kiện thực hiện và năng lực cần thiết.
Trong tổng số biên chế được cấp có thẩm quyền giao, người đứng đầu cơ quan, địa phương chủ động quyết định điều động, bố trí biên chế linh hoạt giữa các vị trí việc làm theo yêu cầu nhiệm vụ, bảo đảm trình độ, chất lượng đáp ứng yêu cầu công việc.
