Chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Ngày 11/8/2026, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 17-CT/TU về tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Báo và Phát thanh, truyền hình đăng toàn văn Chỉ thị.
CHỈ THỊ
CỦA BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY
về tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
-----
Thực hiện các chủ trương của Trung ương và của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, cải cách hành chính, chuyển đổi số và phát triển các thành phần kinh tế; căn cứ kết quả Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2025 và tình hình thực tiễn, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất về môi trường đầu tư, kinh doanh; nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác xã, hộ kinh doanh và các chủ thể kinh tế; bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng, thuận lợi trong tiếp cận thủ tục hành chính, nguồn lực, dịch vụ công và cơ hội phát triển.
I- TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN
Năm 2025, PCI của tỉnh Cao Bằng đạt được một số kết quả tích cực: Chính quyền kiến tạo đạt 6,02 điểm, xếp thứ 10/34; Gia nhập thị trường đạt 7,32 điểm, xếp thứ 14/34; Thiết chế pháp lý đạt 7,28 điểm, xếp thứ 18/34. Kết quả này cho thấy cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận tính năng động, tinh thần đồng hành của chính quyền, sự thuận lợi trong gia nhập thị trường và những mặt tích cực của môi trường pháp lý.
Tuy nhiên, kết quả chung còn thấp; nhiều chỉ số thành phần thuộc nhóm cuối: Tiếp cận nguồn lực đạt 4,07 điểm, xếp thứ 34/34; Chi phí tuân thủ thủ tục hành chính đạt 6,47 điểm, xếp thứ 31/34; Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đạt 5,01 điểm, xếp thứ 30/34; Chi phí không chính thức đạt 6,97 điểm, xếp thứ 28/34; Tính minh bạch đạt 6,51 điểm, xếp thứ 27/34; Cạnh tranh bình đẳng đạt 5,27 điểm, xếp thứ 23/34.
Đáng lưu ý, Chính quyền kiến tạo xếp thứ 10/34 nhưng PCI tổng hợp còn rất thấp. Điều đó cho thấy quyết tâm, tinh thần năng động, đồng hành của lãnh đạo tỉnh đã được cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận, nhưng chưa được chuyển hóa đồng đều thành kết quả trong tổ chức thực hiện; chất lượng phục vụ ở một số khâu, lĩnh vực chưa đáp ứng yêu cầu và kỳ vọng của người dân, doanh nghiệp. Trong các hạn chế, tiếp cận nguồn lực là điểm nghẽn lớn nhất, tác động trực tiếp đến khả năng thu hút đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh và tăng trưởng kinh tế.
Nguyên nhân khách quan là địa hình miền núi, chia cắt; quy mô thị trường nhỏ; hạ tầng và logistics còn hạn chế; xa các trung tâm kinh tế lớn; chi phí đầu tư cao; nguồn lực ngân sách còn khó khăn.
Nguyên nhân chủ quan là chủ yếu: tổ chức thực hiện ở một số cơ quan, đơn vị chưa quyết liệt; phối hợp chưa chặt chẽ; giải quyết hồ sơ, thủ tục có việc còn kéo dài; chuẩn bị quỹ đất, giải phóng mặt bằng, cung cấp thông tin cho nhà đầu tư còn chậm; cải cách hành chính và chuyển đổi số chưa thực sự làm giảm thời gian, chi phí; chính sách hỗ trợ còn phân tán; còn biểu hiện né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm; kiểm tra, giám sát, quy trách nhiệm chưa đủ mạnh.

Chuyển đổi số góp phần giảm thời gian và chi phí cho người dân khi cần giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy thẳng thắn nhìn nhận từ kết quả PCI năm 2025 chưa tương xứng với quyết tâm chính trị, tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển của tỉnh; yêu cầu phải có chuyển biến rõ rệt, thực chất, bền vững trong thời gian tới. Không lấy khó khăn khách quan để giải thích cho những hạn chế thuộc trách nhiệm chủ quan; không chạy theo thứ hạng, nhưng cũng không bằng lòng, không chấp nhận tình trạng nhiều chỉ số quan trọng kéo dài ở nhóm thấp. Kết quả PCI phải được coi là một kênh thông tin quan trọng để thường xuyên soi lại chất lượng lãnh đạo, điều hành, tinh thần trách nhiệm và hiệu quả phục vụ của bộ máy chính quyền.
II- MỤC TIÊU, YÊU CẦU
1. Mục tiêu
Tạo chuyển biến rõ nét ngay trong năm 2026; từng bước xây dựng Cao Bằng có môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, thuận lợi, bình đẳng, an toàn, chi phí cạnh tranh; chính quyền phục vụ, đồng hành; các nguồn lực được khơi thông và sử dụng hiệu quả.
Phấn đấu đến năm 2030, chất lượng điều hành kinh tế, môi trường đầu tư, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của tỉnh thuộc nhóm khá của cả nước, trở thành một lợi thế quan trọng thúc đẩy phát triển nhanh, xanh và bền vững.
2. Yêu cầu
Chuyển mạnh từ quản lý sang kiến tạo phát triển; từ ban hành chủ trương sang nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện; từ đánh giá quy trình sang đánh giá kết quả; từ thụ động tiếp nhận kiến nghị sang chủ động phát hiện, tháo gỡ khó khăn.
Lấy người dân, doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế làm trung tâm phục vụ; lấy thời gian, chi phí, mức độ thuận lợi, mức độ hài lòng và kết quả thực tế làm thước đo.
Xác định cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh là quá trình liên tục, không có điểm dừng; kết quả năm sau phải có tiến bộ thực chất so với năm trước, nhất là đối với các chỉ số đang thuộc nhóm thấp. Người đứng đầu phải trực tiếp lãnh đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm về kết quả thuộc lĩnh vực, địa bàn được giao.
Bảo vệ, khuyến khích cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; đồng thời xử lý nghiêm hành vi né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm, gây phiền hà, nhũng nhiễu.
Bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn, ổn định về pháp lý; thực hiện nghiêm việc phân định rõ trách nhiệm hình sự, hành chính, dân sự trong xử lý các vụ việc kinh tế; không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự, đồng thời không dung túng, bao che vi phạm theo tinh thần Nghị quyết số 68NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 501-KH/TU, ngày 22/7/2025 của Tỉnh ủy Cao Bằng.
III- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM
1. Khơi thông nguồn lực, trước hết là đất đai, mặt bằng và hạ tầng
Rà soát toàn bộ dự án đầu tư, hồ sơ, kiến nghị còn tồn đọng; tập trung tháo gỡ khó khăn về đất đai, quy hoạch, giải phóng mặt bằng, xây dựng, môi trường, khoáng sản, điện, nước, giao thông, tín dụng, cửa khẩu và logistics.
Công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quỹ đất, mặt bằng, khu, cụm công nghiệp, danh mục dự án kêu gọi đầu tư và tình trạng pháp lý có liên quan, trước hết là quỹ đất dọc các tuyến cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh và Bắc Kạn - Cao Bằng, chủ động tính toán trước các không gian kinh tế có khả năng hình thành, phát triển dọc tuyến, không chờ công trình hoàn thành mới nghiên cứu khai thác; chủ động chuẩn bị quy hoạch rõ, mặt bằng phù hợp, hạ tầng thiết yếu, thông tin đầy đủ, đầu mối hỗ trợ cụ thể.
Kiên quyết xử lý theo quy định các dự án chậm triển khai, không còn khả năng thực hiện; giải phóng đất đai và các nguồn lực để bố trí cho dự án có năng lực, hiệu quả cao hơn.
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng, chỉnh lý, hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai; kiện toàn tổ công tác về dữ liệu đất đai, huy động sự tham gia của lực lượng công an xã để đẩy nhanh tiến độ; xác định đây là nhiệm vụ phải hoàn thành trong năm 2026.
2. Cải cách thực chất thủ tục hành chính, giảm thời gian và chi phí
Rà soát, tái cấu trúc các thủ tục có tác động lớn đến người dân và hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, nhất là đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường, đăng ký kinh doanh, thuế, hải quan và cửa khẩu.
Cắt giảm khâu trung gian; xử lý song song các thủ tục có thể thực hiện đồng thời; không yêu cầu lại dữ liệu đã có; hồ sơ cần bổ sung phải hướng dẫn đầy đủ một lần; công khai tiến độ và trách nhiệm từng khâu.
Đánh giá cải cách hành chính bằng thời gian thực tế, chi phí thực tế và mức độ hài lòng, không chỉ bằng tỷ lệ hồ sơ đúng hạn trên hệ thống.
Thực hiện nguyên tắc "một việc, một đầu mối, một người chịu trách nhiệm, một thời hạn, một kết quả"; không để người dân, doanh nghiệp phải tự liên hệ nhiều cơ quan để giải quyết cùng một vấn đề.
3. Nâng cao chất lượng phục vụ, hỗ trợ phát triển các chủ thể kinh tế
Chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ theo nhu cầu thực tế; tập trung vào đất đai, vốn, lao động, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, tiêu chuẩn, thương hiệu, thị trường, xuất nhập khẩu và kết nối chuỗi giá trị.
Đối thoại phải đi thẳng vào khó khăn, vướng mắc cụ thể; sau đối thoại phải có kết luận, phân công, thời hạn và theo dõi đến kết quả cuối cùng.
Bảo đảm doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, hợp tác xã, hộ kinh doanh và các chủ thể kinh tế được tiếp cận bình đẳng thông tin, cơ hội đầu tư, nguồn lực và chính sách hỗ trợ theo quy định.
4. Tăng cường công khai, minh bạch; ngăn ngừa chi phí không chính thức
Công khai, cập nhật, dễ tiếp cận thông tin về quy hoạch, đất đai, thủ tục, dự án, đấu thầu, đấu giá, cơ chế, chính sách hỗ trợ và đầu mối giải quyết.
Thiết lập các kênh tiếp nhận, xử lý phản ánh thuận tiện, an toàn, bảo mật; kiểm tra, xử lý nghiêm hành vi yêu cầu giấy tờ ngoài quy định, kéo dài thời gian, gây phiền hà, nhũng nhiễu hoặc phát sinh chi phí không chính thức.
5. Đẩy mạnh chuyển đổi số, điều hành bằng dữ liệu
Khẩn trương xây dựng lộ trình phù hợp, khả thi để đưa vào vận hành Bảng điều hành môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh trên nền tảng số, theo dõi môi trường đầu tư, kinh doanh và các dự án trọng điểm; cảnh báo sớm hồ sơ sắp quá hạn, dự án chậm tiến độ, kiến nghị kéo dài; bảo đảm kết nối, khai thác hiệu quả các hệ thống do Trung ương triển khai, không đầu tư trùng lặp, lãng phí. Trong thời gian xây dựng, hoàn thiện Bảng điều hành, phải có giải pháp trung gian, thiết thực, thông qua nhiều hình thức phù hợp để cập nhật thường xuyên tình hình, tiến độ xử lý hồ sơ, dự án, kiến nghị của doanh nghiệp, không chờ hệ thống hoàn chỉnh mới thực hiện theo dõi.
Dữ liệu phải phục vụ trực tiếp công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; chuyển từ báo cáo tổng hợp sang theo dõi từng hồ sơ, dự án, tiến độ, kết quả và trách nhiệm cụ thể.
6. Siết chặt trách nhiệm người đứng đầu, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, gắn kết quả với công tác cán bộ
Kết quả giải quyết thủ tục, tháo gỡ khó khăn, số hồ sơ quá hạn, mức độ hài lòng và phản ánh của người dân, doanh nghiệp phải là căn cứ quan trọng để đánh giá tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu và cán bộ, công chức có liên quan.
Không đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ đối với tập thể, cá nhân để xảy ra nhiều hồ sơ, dự án chậm kéo dài hoặc nhiều phản ánh chính đáng nhưng không kịp thời khắc phục.
Kịp thời biểu dương cán bộ có sáng kiến, cách làm hiệu quả; xem xét điều chuyển, thay thế hoặc xử lý trách nhiệm đối với cán bộ thiếu trách nhiệm, né tránh, gây cản trở hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
7. Phát huy vai trò giám sát, phản biện và sự đồng hành của Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp
Ban Thường vụ Tỉnh ủy trân trọng đề nghị và kêu gọi cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân, hợp tác xã, hộ kinh doanh và Nhân dân trong tỉnh tiếp tục quan tâm, theo dõi, đồng hành; chủ động phản ánh, hiến kế, đóng góp ý kiến thẳng thắn, khách quan, kịp thời về chất lượng phục vụ, những khó khăn, vướng mắc và những biểu hiện chưa phù hợp trong thực thi công vụ.
Các ý kiến góp ý xác đáng phải được tiếp nhận với tinh thần cầu thị, xem là nguồn thông tin quan trọng để chính quyền tỉnh, xã, phường kịp thời điều chỉnh phương thức quản lý, quy trình giải quyết công việc, khắc phục hạn chế, nhân rộng cách làm tốt. Khuyến khích, cổ vũ những chuyển biến tích cực, cán bộ tận tâm, sáng tạo, phục vụ tốt; đồng thời phản ánh kịp thời những biểu hiện trì trệ, né tránh, gây phiền hà.
Xây dựng mối quan hệ giữa chính quyền với người dân, doanh nghiệp trên tinh thần tin cậy, trách nhiệm, chia sẻ và cùng phát triển; chính quyền cầu thị lắng nghe và hành động, người dân và doanh nghiệp tích cực tham gia góp ý, giám sát, đồng hành để môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh ngày càng tốt hơn.
IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh
Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện Chỉ thị theo nguyên tắc "6 rõ"; xác định cụ thể nhiệm vụ, chỉ tiêu tạo chuyển biến từ nay đến hết năm 2026 và các năm tiếp theo; phân công rõ trách nhiệm từng cơ quan, người đứng đầu. Chủ động khảo sát, đo lường mức độ hài lòng, thường xuyên tiếp nhận phản ánh của người dân, doanh nghiệp và kịp thời điều chỉnh những nội dung còn bất cập. Hằng tháng báo cáo Thường trực Tỉnh ủy, hằng quý báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Trên cơ sở kết quả thực hiện năm 2026, hằng năm xây dựng Kế hoạch thực hiện Chỉ thị phù hợp với mục tiêu, yêu cầu và tình hình thực tế.
2. Đảng ủy Hội đồng nhân dân tỉnh
Lãnh đạo Hội đồng nhân dân tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh và các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh tăng cường giám sát việc thực hiện Chỉ thị, nhất là các lĩnh vực có chỉ số thấp, những vấn đề người dân và doanh nghiệp phản ánh nhiều; giám sát trên tinh thần đồng hành, xây dựng, kịp thời phát hiện hạn chế, bất cập, kiến nghị giải pháp để các cơ quan chính quyền điều chỉnh, nâng cao chất lượng phục vụ và hiệu quả thực hiện. Định kỳ tổng hợp kết quả giám sát, kiến nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy và cơ quan có thẩm quyền xem xét, chỉ đạo.
3. Ban Tổ chức Tỉnh ủy
Chủ trì tham mưu đưa kết quả cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp vào tiêu chí đánh giá, xếp loại tập thể, cán bộ lãnh đạo, quản lý; tham mưu bố trí, sử dụng cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
4. Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Ban Nội chính Tỉnh ủy
Theo chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát; tham mưu xử lý trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân để xảy ra chậm trễ kéo dài, né tránh, đùn đẩy, nhũng nhiễu, tiêu cực, phát sinh chi phí không chính thức.
5. Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy và Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể tỉnh
Theo chức năng lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, nắm bắt ý kiến Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp; tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp tham gia góp ý, phản biện, giám sát; tuyên truyền, lan tỏa những mô hình tốt, cách làm hiệu quả, chuyển biến tích cực; đồng thời phản ánh khách quan những hạn chế cần khắc phục.
6. Đảng ủy các xã, phường
Lãnh đạo thực hiện nghiêm Chỉ thị; nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh; không đặt thêm thủ tục, giấy tờ ngoài quy định; chủ động tiếp nhận, giải quyết và phản hồi ý kiến, kiến nghị thuộc thẩm quyền; kịp thời báo cáo, đề xuất xử lý những vấn đề vượt thẩm quyền
7. Văn phòng Tỉnh ủy
Chủtrì theo dõi, đôn đốc, tổng hợp tình hình thực hiện; định kỳ báo cáo Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xem xét, chỉ đạo.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị quán triệt tinh thần quyết tâm cao, hành động quyết liệt, thực chất; mỗi năm phải tạo được tiến bộ rõ ràng, có thể đo lường và được người dân, doanh nghiệp ghi nhận. Những chỉ số thấp phải có giải pháp, lộ trình, người chịu trách nhiệm và được kiểm tra đến cùng; những chỉ số tích cực phải tiếp tục được củng cố, nâng cao, không chủ quan, thỏa mãn.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy mong muốn và tin tưởng cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân và Nhân dân tiếp tục đồng hành, giám sát, cổ vũ những đổi mới tích cực, thẳng thắn đóng góp, phản ánh những hạn chế, bất cập, cùng với cấp uỷ, chính quyền xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh ngày càng minh bạch, thuận lợi và hiệu quả.
Mục tiêu cuối cùng không phải là tăng điểm, tăng hạng PCI, mà là khơi thông nguồn lực, giảm thời gian và chi phí, xây dựng bộ máy thực sự phục vụ; tạo môi trường thuận lợi để người dân yên tâm sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp và chủ thể kinh tế đầu tư, phát triển lâu dài; qua đó thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, tăng thu ngân sách và xây dựng Cao Bằng phát triển nhanh, xanh, bền vững.
T/M BAN THƯỜNG VỤ
BÍ THƯ
(đã ký)





![[VIDEO] Cục Thuế chấn chỉnh doanh nghiệp báo lỗ ảo, né thuế hàng loạt](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_08_13_180_55824269/de03a9e6efad06f35fbc.jpg)






