Chia đất thừa kế không có di chúc, con nuôi có được hưởng như con ruột không?

Rất nhiều người quan tâm, trong trường hợp chia đất không có di chúc, con nuôi có được hưởng như con ruột hay không?

Trên báo Lao động, một độc giả gửi câu hỏi như sau: "Ông bà mất không có di chúc. Ông bà có 2 người con ruột và một người con nuôi. Hỏi đất thừa kế có được chia cho con nuôi không?".

Vấn đề này được giải đáp như sau:

Việc ông bà mất không để lại di chúc thì phần di sản (đất đai) của ông bà sẽ được chia thừa kế theo pháp luật (căn cứ điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015).

Đối với người con nuôi, việc có được chia đất thừa kế hay không sẽ phụ thuộc vào tính hợp pháp của việc nhận nuôi con nuôi, cụ thể chia thành 2 trường hợp sau:

Trường hợp 1: Là con nuôi hợp pháp

Nếu việc ông bà nhận người con nuôi này đã được làm thủ tục đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật Nuôi con nuôi (có Giấy chứng nhận nuôi con nuôi) thì người con này được pháp luật công nhận là con nuôi hợp pháp.

- Căn cứ Điều 653 Bộ luật Dân sự 2015, con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau.

- Đồng thời, theo điểm a Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, con đẻ và con nuôi đều cùng thuộc hàng thừa kế thứ nhất.

Người con nuôi hợp pháp hoàn toàn có quyền được hưởng thừa kế. Căn cứ khoản 2 Điều 651, người con nuôi sẽ được chia phần di sản bằng đúng với phần của mỗi người con ruột (chia đều làm 3 phần, giả định cha mẹ của ông bà đều đã qua đời).

Chia đất thừa kế không có di chúc, con nuôi có được hưởng như con ruột không? Ảnh minh họa.

Chia đất thừa kế không có di chúc, con nuôi có được hưởng như con ruột không? Ảnh minh họa.

Trường hợp 2: Không phải là con nuôi hợp pháp

Nếu ông bà chỉ nhận nuôi chăm sóc trên thực tế mà chưa thực hiện đăng ký thủ tục nhận con nuôi tại cơ quan Nhà nước, thì về mặt pháp lý, giữa ông bà và người con này không được pháp luật công nhận quan hệ cha mẹ - con cái.

Người con nuôi trong trường hợp này không thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên sẽ không được chia phần di sản là đất đai theo pháp luật. Toàn bộ di sản sẽ được chia đều cho 2 người con ruột. (Người con nuôi chỉ được nhận tài sản nếu 2 người con ruột tự nguyện thỏa thuận trích một phần di sản của họ để tặng cho lại người con nuôi).

Di chúc là gì?

Căn cứ Điều 624 Bộ luật Dân sự quy định thì di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

Về hình thức, pháp luật hiện hành tại Điều 627 Bộ luật Dân sự có quy định về di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Theo đó, nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, cũng như đảm bảo thực hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết thì Bộ luật Dân sự khuyến khích lập di chúc bằng văn bản hơn so với di chúc miệng, trừ các trường hợp bất khả kháng, hạn chế năng lực hành vi của người để lại di chúc, đột tử …

Theo Điều 628 Bộ Luật Dân sự, di chúc bằng văn bản bao gồm:

+ Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.

+ Di chúc bằng văn bản có người làm chứng.

+ Di chúc bằng văn bản có công chứng/ chứng thực.

Bên cạnh đó, theo Điều 629 Bộ Luật Dân sự di chúc miệng sẽ thuộc trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.

Tuy nhiên, sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Căn cứ Điều 624 Bộ luật Dân sự quy định thì di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Ảnh minh họa.

Căn cứ Điều 624 Bộ luật Dân sự quy định thì di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Ảnh minh họa.

Điều kiện di chúc hợp pháp

Căn cứ Điều 630 Bộ Luật Dân sự, di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện về hình thức bao gồm:

+ Người lập di chúc phải đủ tuổi vị thành niên; minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép.

+ Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

+ Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc. +Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

+ Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại Khoản 1 Điều 630 Bộ Luật Dân sự.

- Trong các trường hợp khẩn cấp như bị tai nạn, tính mạng bị đe dọa, tình trạng khẩn cấp,... thì người để lại di chúc và 2 người làm chứng đủ các điều kiện theo  Bộ luật Dân sự sẽ tiến hành để lại di chúc miệng. Ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Theo Điều 631  Bộ Luật Dân sự thì nội dung của di chúc, bao gồm: Ngày, tháng, năm lập di chúc; họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; di sản để lại và nơi có di sản. Ngoài các nội dung quy định tại Khoản 1 Điều 631 Bộ Luật Dân sự, di chúc có thể có các nội dung khác.

Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.

Trà My (t/h)

Nguồn Góc nhìn pháp lý: https://gocnhinphaply.nguoiduatin.vn/chia-dat-thua-ke-khong-co-di-chuc-con-nuoi-co-duoc-huong-nhu-con-ruot-khong-52153.html