Chiến lược nhân tài - kiến tạo động lực phát triển
Nhân tài là nguồn lực chiến lược, tạo đột phá về khoa học, công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia. Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, Trung ương đã thông qua Đề án “Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững”, thể hiện tầm nhìn dài hạn, khẳng định vai trò then chốt của nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm khơi thông nội lực, tạo động lực cho đất nước phát triển.
Hiện nay, cạnh tranh quốc tế ngày càng dựa nhiều vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nguồn nhân lực chất lượng cao, có thể tạo ra những công nghệ mới, cải thiện hiệu quả quản trị, phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao và mở ra những hướng đi mới cho nền kinh tế. Đặc biệt, trong các lĩnh vực mũi nhọn, một sáng kiến có giá trị hoặc một bước tiến công nghệ có thể tạo hiệu ứng lan tỏa rộng, nâng cao năng lực của cả ngành, lĩnh vực. Do đó, việc xây dựng chiến lược quốc gia về nhân tài không đơn thuần là chính sách nhân lực, mà còn là đầu tư cho năng lực cạnh tranh và tương lai phát triển của đất nước. Đây cũng là bước chuyển từ tư duy coi nhân tài là nguồn lực cần thu hút sang tư duy chủ động kiến tạo một hệ sinh thái để nhân tài được phát hiện, phát triển, trọng dụng và cống hiến lâu dài.
Trung ương đã xác định rõ: “chiến lược nhân tài đặt trọng dụng ở vị trí then chốt, gắn thu hút với đào tạo, phát triển và cống hiến”. Một trong những vấn đề quan trọng của chiến lược nhân tài là xác định đúng nhu cầu. Trước hết, cần xác định các ngành, lĩnh vực mũi nhọn gắn với mục tiêu phát triển quốc gia, từ đó xây dựng kế hoạch nhân lực theo từng giai đoạn, nhận diện những năng lực còn thiếu và dự báo nhu cầu trong tương lai. Do đó, thu hút nhân tài phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và những nhiệm vụ chiến lược của đất nước, tránh dàn trải, chạy theo phong trào. Đồng thời, lấy năng lực thực chất, khả năng giải quyết vấn đề và giá trị đóng góp làm thước đo, thay vì chủ yếu dựa vào bằng cấp, học hàm, học vị hay chức vụ.
Để thu hút nhân tài hiệu quả, cần mở rộng nguồn phát hiện, không giới hạn trong khu vực công mà chủ động tìm kiếm từ các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và mạng lưới chuyên gia quốc tế. Kết nối nhân tài trong nước với trí thức Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế sẽ góp phần bổ sung tri thức, công nghệ, kinh nghiệm, nâng cao năng lực nghiên cứu và sáng tạo.
Việc tìm kiếm, thu hút nhân tài vào những lĩnh vực trọng điểm bằng cơ chế, chính sách đãi ngộ đủ sức cạnh tranh là cần thiết, nhưng mới chỉ là bước khởi đầu. Chính sách nhân tài không thể chỉ dừng ở việc “trải thảm đỏ”, mà quan trọng hơn là phải hình thành cơ chế đồng bộ để phát hiện, tuyển chọn, bố trí và sử dụng hiệu quả người tài. Trên cơ sở những nhiệm vụ chiến lược của đất nước, cần xác định đúng người, giao đúng việc, trao quyền tương xứng và bảo đảm đủ nguồn lực để nhân tài phát huy năng lực, tạo ra những giá trị thiết thực. Trọng dụng nhân tài không nhất thiết phải gắn với chức vụ lãnh đạo, quản lý, mà cốt lõi là đặt họ vào vị trí phù hợp, tạo không gian sáng tạo, cơ hội phát triển và điều kiện cống hiến. Cùng với môi trường làm việc chuyên nghiệp, cơ chế đánh giá công bằng, ghi nhận xứng đáng những đóng góp cũng là yếu tố quyết định. Người tài không chỉ cần đãi ngộ tương xứng, mà còn cần được tin tưởng, trao cơ hội và nhìn thấy giá trị từ chính những đóng góp của mình.
Một chiến lược quốc gia chỉ thực sự có ý nghĩa khi được cụ thể hóa thành chương trình hành động, có mục tiêu rõ ràng, nguồn lực bảo đảm và trách nhiệm thực hiện cụ thể. Vì vậy, sau khi Đề án được thông qua, cần sớm có lộ trình triển khai thực hiện hiệu quả. Đãi ngộ xứng đáng với nhân tài không phải là đặc quyền, mà phải tương xứng với năng lực, trách nhiệm và kết quả đóng góp. Vì vậy, chiến lược cần bảo đảm công khai, minh bạch trong tuyển chọn, công bằng về cơ hội và kiểm soát chặt chẽ việc thực thi các cơ chế “đặc thù”. Điều quan trọng không phải là chúng ta đã thu hút được bao nhiêu nhân tài cho các lĩnh vực mà giá trị của nhân tài phải được khẳng định bằng thực tài, năng lực giải quyết những bài toán khó và những đóng góp cụ thể được thực tiễn kiểm chứng, qua đó vừa tạo động lực cống hiến, vừa ngăn ngừa việc lợi dụng chính sách hoặc phát sinh bất bình đẳng không đáng có.
Khi xác định đúng nhu cầu, phát hiện đúng người, giao đúng việc, bảo đảm điều kiện cống hiến và đánh giá bằng kết quả thực chất, nhân tài sẽ trở thành nguồn lực quan trọng góp phần đưa tri thức và sức sáng tạo thành động lực phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
