Chiến lược phát triển cơ giới hóa nông nghiệp
Cơ giới hóa đang từng bước thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp ở Điện Biên, từ khâu làm đất, gieo cấy đến thu hoạch, chế biến và bảo quản nông sản. Thực hiện Chiến lược phát triển cơ giới hóa nông nghiệp, tỉnh đẩy mạnh ứng dụng máy móc, công nghệ tiên tiến, góp phần giảm sức lao động, tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và thúc đẩy phát triển nông nghiệp hàng hóa theo hướng hiện đại.
Thực tế sản xuất cho thấy, cơ giới hóa đã được ứng dụng ở nhiều khâu, góp phần thay đổi tập quán canh tác và nâng cao hiệu quả sản xuất của người dân. Trong đó, trồng trọt là lĩnh vực có mức độ cơ giới hóa tương đối rõ nét, nhất là khâu làm đất và thu hoạch lúa.

Người dân bản Hồng Líu, phường Mường Thanh áp dụng cơ giới hóa vào khâu làm đất.
Trước đây gần 3.000m² đất ruộng của gia đình anh Nguyễn Văn Huy, bản Hồng Líu, phường Mường Thanh đều dựa vào sức người, nhất là thời điểm làm đất và thu hoạch mất nhiều công lao động và thời gian. Những năm gần đây, việc sử dụng máy móc trong sản xuất lúa giúp gia đình giảm đáng kể công việc nặng nhọc và tiết kiệm chi phí thuê nhân công. Theo anh Huy, cơ giới hóa mang lại nhiều thuận lợi cho người dân, nhất là khi lao động nông nghiệp thiếu hụt vào thời điểm mùa vụ.
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường, cơ giới hóa trong sản xuất được đẩy mạnh, nhất là tại các vùng sản xuất tập trung như xã Thanh An, Thanh Nưa, Sam Mứn... Đối với khâu làm đất trên cây lúa, tỷ lệ cơ giới hóa đạt khoảng 80 - 85%; cơ giới hóa khâu thu hoạch đạt 54,1%, giảm công lao động và giảm tổn thất sau thu hoạch từ 5 - 7%.
Cùng với cơ giới hóa trong khâu làm đất, thu hoạch, việc ứng dụng công nghệ, máy móc vào sơ chế, bảo quản và chế biến nông sản từng bước được quan tâm. Tỷ lệ áp dụng công nghệ cao trong khâu chế biến, bảo quản nông sản đạt 15,2%. Một số doanh nghiệp, hợp tác xã đã đầu tư hệ thống máy móc, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu thị trường và gia tăng giá trị nông sản sau thu hoạch.

Việc đầu tư nhà máy chế biến mủ cao su, nên giá trị cao su tăng đáng kể.
Cao su là một trong những cây trồng chủ lực của tỉnh. Trước đây, mủ cao su chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng thô hoặc vận chuyển đến các tỉnh khác để chế biến, làm tăng chi phí vận chuyển và giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, từ cuối năm 2025, Công ty Cổ phần Cao su Điện Biên đưa vào hoạt động nhà máy chế biến mủ cao su, với công suất thiết kế 5.000 tấn/năm. Nhà máy sản xuất các chủng loại cao su SVR10 và SVR20, đáp ứng tiêu chuẩn TCVN và TCCS, mở hướng phát triển chế biến sâu, nâng cao giá trị sản phẩm ngay tại địa phương.
Hiệu quả bước đầu thể hiện qua kết quả sản xuất, kinh doanh. Trong 9 tháng năm 2026, nhà máy chế biến hơn 3.211 tấn mủ cao su thành phẩm SVR10, đạt trên 64% kế hoạch năm; khối lượng tiêu thụ đạt hơn 3.200 tấn, tăng 44% so với cùng kỳ trước khi có nhà máy. Doanh thu đạt trên 172 tỷ đồng, tăng 70%.
Theo ông Nguyễn Ngọc Cẩm, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Cao su Điện Biên, việc đưa nhà máy chế biến mủ cao su vào hoạt động là bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện chuỗi giá trị ngành cao su trên địa bàn tỉnh. Thay vì phụ thuộc vào các cơ sở chế biến ngoài tỉnh, nguồn nguyên liệu được chế biến ngay tại địa phương, góp phần giảm chi phí vận chuyển, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và chủ động hơn trong tiêu thụ sản phẩm.

Người dân xã Na Son áp dụng máy móc nhỏ trên diện tích trồng trọt.
Tuy nhiên, cơ giới hóa nông nghiệp ở Điện Biên vẫn còn hạn chế. Nhất là trong khâu làm đất, tỷ lệ cơ giới hóa chủ yếu ở lĩnh vực sản xuất lúa; tỷ lệ cơ giới hóa ở khâu gieo cấy mới đạt 3,5%.
Theo bà Chu Thị Thanh Xuân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, nguyên nhân chi phí đầu tư, mua sắm máy móc, thiết bị còn cao, trong khi khả năng đầu tư của hộ sản xuất còn hạn chế. Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất tại một số vùng chưa đồng bộ, gây khó khăn cho việc đưa máy móc vào sản xuất. Bên cạnh đó, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, ruộng đất phân tán, địa hình phức tạp, chưa thuận lợi cho việc áp dụng cơ giới hóa đồng bộ và sử dụng các loại máy móc có công suất lớn.
Để thúc đẩy áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 9263/KH-UBND ngày 16/10/2026 về thực hiện Chiến lược phát triển cơ giới hóa nông nghiệp và chế biến nông, lâm, thủy sản đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh. Kế hoạch hướng tới đẩy mạnh ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, công nghệ số và công nghệ thông tin trong sản xuất; nâng cao mức độ cơ giới hóa ở các khâu, từng bước tiến tới cơ giới hóa đồng bộ. Tỉnh cũng định hướng ưu tiên các thiết bị thông minh, công nghệ số như thiết bị bay không người lái (Drone), hệ thống tưới tự động, cảm biến môi trường...
Theo đó, trong lĩnh vực trồng trọt, tỉnh phấn đấu cơ giới hóa đồng bộ ở khâu làm đất đối với các cây trồng chủ lực đạt trên 75%, khâu chăm sóc đạt trên 20% và khâu thu hoạch đạt trên 45%. Đối với chăn nuôi, mục tiêu đặt ra là 100% trang trại thực hiện cơ giới hóa đồng bộ các khâu chăn nuôi, đồng thời tỷ lệ cơ sở chăn nuôi thực hiện cơ giới hóa đồng bộ đạt 10%. Trong lĩnh vực lâm nghiệp, mức độ cơ giới hóa phấn đấu đạt trên 15% ở khâu làm đất và 20% ở khâu chăm sóc. Tỉnh cũng đặt mục tiêu trên 50% cơ sở chế biến, bảo quản nông sản chủ lực đạt trình độ và năng lực công nghệ từ trung bình tiên tiến trở lên; giảm tổn thất sau thu hoạch đối với các nông sản chủ lực tối thiểu 0,5% mỗi năm.

Xã Mường Ảng thử nghiệm áp dụng UAV bón phân qua lá cho cây cà phê.
Để hiện thực hóa các mục tiêu, ngành nông nghiệp xác định tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, thu hút doanh nghiệp đầu tư, hình thành vùng nguyên liệu tập trung, gắn với sản xuất tuần hoàn. Các cây trồng chủ lực và chăn nuôi trang trại sẽ tạo điều kiện đưa máy móc hiện đại vào sản xuất. Cùng với đó, tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ sở chế biến, tiêu thụ; đẩy mạnh chuyển giao khoa học, công nghệ, hướng dẫn vận hành, bảo dưỡng thiết bị, góp phần giảm chi phí, nâng cao hiệu quả cơ giới hóa.
Với định hướng và mục tiêu cụ thể đến năm 2030, cùng sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân, cơ giới hóa sẽ từng bước được mở rộng, tạo chuyển biến thực chất trong phát triển nông nghiệp hàng hóa của tỉnh.
