Chiến sự ở Trung Đông leo thang, thị trường xăng dầu Việt Nam có bị ảnh hưởng?
Chiến sự ở Trung Đông đang leo thang và dự kiến kéo dài, vậy thị trường xăng dầu Việt Nam sẽ ra sao khi nguồn cung nguy cơ bị gián đoạn?
Theo TS. Giang Chấn Tây, Giám đốc Công ty TNHH MTV Bội Ngọc (Vĩnh Long), chiến sự giữa Mỹ - Israel và Iran leo thang sẽ tạo ra những rung chấn mạnh đối với thị trường năng lượng toàn cầu. Vì Trung Đông vốn được xem là “trái tim” của nguồn cung dầu mỏ thế giới và giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong chuỗi vận chuyển năng lượng quốc tế. Khi xung đột bùng phát, thị trường dầu không chờ đến lúc nguồn cung thực sự bị gián đoạn mới phản ứng mà thường biến động ngay từ khi rủi ro xuất hiện.
“Chỉ cần xuất hiện nguy cơ gián đoạn nguồn cung tại các điểm trung chuyển chiến lược như eo biển Hormuz, nơi vận chuyển khoảng 20% lượng dầu thô toàn cầu, thì giá dầu có thể tăng mạnh do lo ngại rủi ro. Trong nhiều trường hợp, giá tăng trước cả khi có bất kỳ sự thiếu hụt vật chất nào. Thị trường phản ứng theo kỳ vọng và kỳ vọng về bất ổn luôn khiến giá được “cộng thêm” một khoản gọi là phí rủi ro địa chính trị”, TS Giang Chấn Tây nói.
Đối với thị trường xăng dầu của Việt Nam, ông Tây cho rằng, việc chịu tác động là điều khó tránh khỏi. “Dù có sản xuất trong nước nhưng Việt Nam vẫn nhập khẩu một phần đáng kể dầu thô và xăng dầu thành phẩm để phục vụ nhu cầu tiêu dùng và sản xuất. Khi giá dầu thế giới tăng, chi phí nhập khẩu tăng theo sẽ gây áp lực trực tiếp lên giá xăng dầu trong nước thông qua cơ chế điều hành. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến người tiêu dùng mà còn tác động sâu rộng tới toàn bộ nền kinh tế”, TS Giang Chấn Tây dẫn chứng.

Đảm bảo nguồn cung xăng dầu là yêu cầu quan trọng. (Ảnh Minh Đức).
Cùng chung nhận định, đại diện Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam Petrolimex cho biết, do nguồn cung dầu thô của châu Á phụ thuộc khá lớn vào Trung Đông nên nếu phải thay đổi tuyến đường hoặc đổi nguồn cung dầu thô ngoài Trung Đông do chiến sự thì sẽ khiến giá dầu thô vừa khan hiếm vừa tăng mạnh, kéo theo giá xăng dầu sản phẩm cao hơn, còn nguồn cung khan hiếm hơn.
Ngoài ra, do hạn chế nguồn cung dầu thô, một số nước và nhà máy sản xuất có thể dừng xuất khẩu để đảm bảo nguồn cung trong nước, dẫn đến khó khăn trong việc tạo nguồn, đẩy giá dầu và phụ phí thị trường lên cao.
Phí bảo hiểm, cước vận chuyển cũng tăng tương ứng khiến cho giá vốn, chi phí kinh doanh tăng theo. Không loại trừ khả năng bất khả kháng khiến các hợp đồng không giao được hàng.
"Trước tình hình đó, chúng tôi đã báo cáo Bộ Công Thương, đồng thời có kiến nghị, đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo nguồn cung trong tình hình hiện nay. Hiện tồn kho toàn bộ hệ thống của Petrolimex đầu tháng 3 theo đúng Nghị định kinh doanh xăng dầu, đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu cho hệ thống phân phối", đại diện Petrolimex thông tin.
Những giải pháp chủ động nguồn cung
Cũng theo Petrolimex, đơn vị đã chủ động trong công tác tạo nguồn hàng với 2 nhà máy lọc dầu trong nước và nhập khẩu đủ đáp ứng theo kế hoạch, đồng thời tăng cường đưa xăng dầu về trong 10 ngày đầu tháng 3 với khoảng 50% lượng hàng nhập tạo nguồn của tháng.
Petrolimex cũng đã chỉ đạo các Công ty TNHH MTV Petrolimex trên toàn quốc phối hợp với cơ quan chức năng địa phương, lên phương án điều độ và triển khai các giải pháp đảm bảo nguồn hàng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng và sản xuất kinh doanh trong hệ thống phân phối của Petrolimex.
Trong khi đó, ông Bùi Ngọc Bảo - Chủ tịch Hiệp hội xăng dầu Việt Nam - cũng cho rằng, xăng dầu là đầu vào thiết yếu của hầu hết các ngành sản xuất và vận tải. Khi giá nhiên liệu tăng, chi phí logistics sẽ tăng theo, từ đó đẩy giá thành sản phẩm lên cao. Nếu doanh nghiệp không kịp điều chỉnh giá bán hoặc đàm phán lại hợp đồng thì lợi nhuận sẽ bị bào mòn. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, việc tăng giá bán không phải lúc nào cũng khả thi.
Tuy nhiên, ông Bảo nhấn mạnh, cần nhìn nhận thẳng thắn rằng biến động giá không đồng nghĩa với nguy cơ thiếu hụt ngay lập tức. Việt Nam có cơ chế dự trữ xăng dầu bắt buộc và hệ thống điều hành thị trường tương đối linh hoạt. Trong ngắn hạn, nguồn cung trong nước vẫn được đảm bảo nhờ dự trữ quốc gia và nguồn từ các nhà máy lọc dầu trong nước.
Vấn đề đáng lo hơn nằm ở kịch bản kéo dài. Nếu chiến sự tiếp tục leo thang, giá dầu duy trì ở mức cao trong thời gian dài, áp lực lạm phát sẽ gia tăng. Khi chi phí năng lượng tăng, chi phí sản xuất và vận chuyển đều tăng sẽ tạo hiệu ứng dây chuyền lan sang giá cả hàng hóa khác. Điều này có thể ảnh hưởng tới mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam.
Trong chuỗi phân phối có thể chia thành hai nhóm chính: doanh nghiệp đầu mối (nhập khẩu, sản xuất, chế biến) và doanh nghiệp bán lẻ. Khi giá biến động, doanh nghiệp đầu mối sẽ chịu tác động trực tiếp từ thị trường quốc tế. Tuy nhiên, hệ thống điều hành của Chính phủ và Bộ Công Thương hiện nay khá chặt chẽ, linh hoạt trong quản lý nguồn cung.
Vấn đề đáng quan tâm là tâm lý thị trường. Khi có thông tin chiến sự, một số doanh nghiệp có xu hướng điều chỉnh chiết khấu, giảm hoa hồng. Trong khi đó, nguồn dự trữ quốc gia vẫn còn, không phải là tình trạng thiếu hụt thực sự. Việc chiết khấu giảm sâu có thể khiến một số cửa hàng kinh doanh khó khăn, thậm chí có thể phải tạm ngừng bán do không đủ lợi nhuận duy trì hoạt động. Vì vậy, điều quan trọng là quản lý tốt tâm lý thị trường và đảm bảo sự ổn định trong hệ thống phân phối.
Về dài hạn, Việt Nam cần đa dạng hóa nguồn cung và tăng cường dự trữ chiến lược. Có thể nghiên cứu nâng mức dự trữ bắt buộc trong những giai đoạn nhạy cảm, thay vì cố định ở 20 ngày thì linh hoạt nâng lên 30 ngày khi rủi ro gia tăng.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh chuyển dịch năng lượng, tăng tỷ trọng nhiên liệu sinh học như E10 để giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. Việt Nam có lợi thế nông nghiệp, đặc biệt là nguồn nguyên liệu như ngô, sắn, mía. Nếu phát triển tốt nhiên liệu sinh học, sẽ góp phần giảm áp lực khi thị trường dầu mỏ biến động. Ngoài ra, khi chiến sự kéo dài, Việt Nam cũng cần chủ động tìm kiếm, đa dạng hóa nguồn nhập khẩu thay vì phụ thuộc vào một số khu vực nhất định.












