Chiều sâu tư duy sau 'Những chiếc lá' của người thay đổi diện mạo thơ Việt
Sự xuất hiện của 'Những chiếc lá' trong đề thi tốt nghiệp THPT 2026 gợi nhắc về Nguyễn Đình Thi, người góp phần làm thay đổi diện mạo thơ Việt hiện đại.
Nhà thơ Nguyễn Đình Thi để lại dấu ấn sâu đậm trên nhiều lĩnh vực của văn học nghệ thuật Việt Nam. Ông thành công ở thơ ca, văn xuôi, kịch, âm nhạc và lý luận phê bình. Trong lĩnh vực văn xuôi, đặc biệt là tiểu thuyết, Nguyễn Đình Thi có nhiều tìm tòi, đột phá quan trọng, góp phần mở ra khuynh hướng sử thi trong văn học Việt Nam hiện đại.
Tuy nhiên, thơ ca mới là lĩnh vực ghi dấu rõ nét nhất cá tính sáng tạo và khát vọng đổi mới của ông. Trong suốt cuộc đời cầm bút, nhà thơ Nguyễn Đình Thi luôn trăn trở tìm kiếm những con đường sáng tạo mới nhằm làm giàu khả năng biểu đạt của thơ Việt Nam. Ông được xem là một trong những người đầu tiên góp phần làm thay đổi thơ Việt Nam hiện đại bằng cách xây dựng một hệ thống hình ảnh mới, năng động, đa nghĩa và giàu tính phức điệu.

Nhà văn, nhà thơ Nguyễn Đình Thi. Ảnh tư liệu.
Người làm thay đổi diện mạo thơ Việt Nam hiện đại
Nhà thơ Nguyễn Đình Thi để lại nhiều tác phẩm tiêu biểu như: Đất nước, Người chiến sĩ, Bài thơ Hắc Hải, Dòng sông xanh, Lá đỏ... Đây đều là những thi phẩm mang đậm dấu ấn phong cách Nguyễn Đình Thi, nơi cảm xúc trữ tình hòa quyện với chiều sâu suy tưởng và những tìm tòi về hình thức nghệ thuật.
Những cách tân của Nguyễn Đình Thi từng làm dấy lên cuộc tranh luận lớn trong đời sống văn nghệ nước ta. Năm 1949, tại Hội nghị tranh luận văn nghệ ở Việt Bắc và sau đó tại Chi hội Văn nghệ Nam Bộ năm 1950, thơ Nguyễn Đình Thi trở thành tâm điểm của nhiều ý kiến trao đổi, tranh luận.
Thực chất, điều mà Nguyễn Đình Thi theo đuổi không phải là sự phủ nhận truyền thống, mà là sự tìm kiếm một hình thức nghệ thuật mới phù hợp với những biến đổi sâu sắc của đời sống cách mạng. Ông chủ trương xây dựng một loại thơ tự do, ít vần hoặc không vần, nhằm diễn tả chính xác hơn nhịp điệu tâm hồn mới và những rung động mới của con người trong thời đại mới.
Trong bài tiểu luận nổi tiếng Những ý nghĩ về thơ (1949), Nguyễn Đình Thi đã trình bày rõ quan niệm nghệ thuật của mình:
“Mỗi thể thơ có một khả năng, một thứ nhịp điệu riêng của nó, nhưng nếu theo dõi từng thời lớn của thơ, đi cùng nhịp với những thời kỳ lớn của lịch sử, thì một thời đại mới của nghệ thuật thường bao giờ cũng tạo ra một hình thức mới. Thơ của một thời mới, trong những bước đầu ít khi chịu những hình thức đều đặn, cố định. Nó chạy tung về phía chân trời mở rộng để tìm kiếm, thử sức mới của nó. Rồi thời đại mới vững lại, thơ nảy nở trong những hình thức trong sáng đã tìm thấy.
Thơ chúng ta ngày nay đang ở tuổi trẻ nhất của thời đại mới. Nhịp sống của chúng ta, từ sau Cách mạng đập lên nhiều phen dữ dội đến bàng hoàng, đồng thời mở rộng ồ ạt. Chúng ta không còn sống khoan thai như các thời đại trước. Nhịp điệu cũ, theo tôi, không còn để cho thơ của chúng ta. Nhiều nhà thơ đang đập vỡ để xây dựng, thơ tiến tới trăm nghìn phía, nhưng lúc nào cũng là một sức đang lên như thổi”.
Một trong những đặc điểm nổi bật của thơ Nguyễn Đình Thi là sự kết hợp hài hòa giữa chất trữ tình và chất suy tưởng. Nhà thơ không chỉ rung cảm trước thiên nhiên và con người mà còn luôn hướng đến những câu hỏi lớn về dân tộc, lịch sử và thân phận con người.
Vì thế, thơ ông vừa giàu cảm xúc vừa đậm chất trí tuệ. Người đọc không chỉ bắt gặp những hình ảnh đẹp mà còn cảm nhận được chiều sâu tư duy ẩn sau mỗi câu chữ.
Đặc điểm này được thể hiện rõ trong nhiều tác phẩm nổi tiếng như Đất nước, Lá đỏ, Bài thơ Hắc Hải hay Những chiếc lá. Trong các sáng tác ấy, hình ảnh thơ thường vượt lên khỏi ý nghĩa tả thực để trở thành biểu tượng của thời gian, ký ức, sự sống và lịch sử.

"Những chiếc lá" vào Đề thi môn Ngữ văn, kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.
Ở bài thơ Những chiếc lá, hình tượng chiếc lá không dừng lại ở một chi tiết thiên nhiên bình thường mà trở thành biểu tượng cho dòng chảy của đời sống và sự tiếp nối của những giá trị nhân văn:
“Sắp tối rồi. Chú bé ôm từng ôm lá nén vào chiếc bao tải dần căng phồngĐi đâu, chú bé vác bao tải to, trên con đường đầu ô bụi bặmĐây rồi, dưới mái bếp tranh, chú bé ngồi vốc từng nắm lá khô nhóm lửa, đặt nồi cơm, đợi mẹ đi làm vềKhói hắc hắc thơm thơm bay lênÀ, à, vậy chứ, - những chiếc lá reo phù phù, nhảy nhót”.
Từ những chiếc lá khô tưởng như vô tri, nhà thơ phát hiện ra một vòng tuần hoàn của sự sống. Lá rơi xuống đất nhưng không mất đi, mà tiếp tục hóa thân thành ngọn lửa sưởi ấm một mái nhà nghèo, thành bữa cơm đợi người mẹ trở về sau một ngày lao động vất vả. Qua đó, Nguyễn Đình Thi gửi gắm cái nhìn nhân văn về giá trị của sự sống, về sự tiếp nối âm thầm nhưng bền bỉ của cuộc đời. Đó cũng là nét đặc sắc làm nên sức sống lâu bền của thơ Nguyễn Đình Thi, mở ra những suy ngẫm sâu xa về con người và cuộc sống.
Người đi cùng những thăng trầm của đất nước
Cuộc đời Nguyễn Đình Thi là hình ảnh tiêu biểu của một thế hệ trí thức Việt Nam trưởng thành cùng cách mạng, sống giữa những biến động lớn lao của dân tộc và dùng tài năng của mình để đồng hành với lịch sử.
Sinh ngày 20/12/1924 tại Luang Prabang (Lào), quê gốc ở Hà Nội, Nguyễn Đình Thi sớm bộc lộ tư chất thông minh và niềm say mê đặc biệt với triết học. Ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, ông đã viết nhiều cuốn sách giới thiệu các trào lưu tư tưởng phương Tây như Triết học nhập môn, Triết học Căng, Triết học Nitsơ, Triết học Anhxtanh, Siêu hình học. Nhưng thay vì lựa chọn con đường của một học giả thuần túy, chàng thanh niên Nguyễn Đình Thi đã tìm thấy lẽ sống của mình trong phong trào yêu nước đang sục sôi những năm đầu thập niên 1940.
Từ năm 17 tuổi, ông tham gia hoạt động Việt Minh, bí mật nghiên cứu triết học Mác và dấn thân vào con đường cách mạng. Năm 1943, Nguyễn Đình Thi tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc, trực tiếp phụ trách báo Độc lập. Khi cao trào cách mạng dâng lên, ông được cử tham dự Quốc dân Đại hội Tân Trào và được bầu vào Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam tháng 7/1945. Từ đây, cuộc đời ông gắn chặt với vận mệnh đất nước.
Cách mạng Tháng Tám thành công, Nguyễn Đình Thi trở thành một trong những trí thức trẻ được giao nhiều trọng trách quan trọng. Ông giữ chức Tổng Thư ký Hội Văn hóa Cứu quốc, tham gia Tiểu ban dự thảo Hiến pháp và Ủy ban Thường trực Quốc hội khóa I. Trong những năm toàn quốc kháng chiến, ông tiếp tục dấn thân vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ cuộc chiến đấu giành độc lập của dân tộc.
Không chỉ đứng ở hậu phương sáng tác, Nguyễn Đình Thi còn trực tiếp hòa mình vào đời sống chiến trường. Năm 1952, ông gia nhập quân đội, giữ cương vị Phó Chính trị viên Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn Thủ đô, Đại đoàn 308. Những năm tháng lăn lộn cùng người lính trên các mặt trận đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tư duy nghệ thuật của ông, trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm lớn sau này.
Điều đáng chú ý là ở bất kỳ cương vị nào, từ người hoạt động cách mạng, cán bộ văn hóa đến nhà văn, nhà thơ, Nguyễn Đình Thi luôn giữ một tinh thần nhập cuộc mạnh mẽ. Trong kháng chiến chống Pháp, ông viết những tác phẩm mang hơi thở của thời đại như Đất nước, Đường núi, Không nói, đồng thời góp phần xây dựng nền lý luận văn nghệ cách mạng bằng các tiểu luận quan trọng. Đến thời kỳ chống Mỹ, ông tiếp tục có mặt ở nhiều tuyến lửa, đi thực tế chiến trường và sáng tác không ngừng.
Sau ngày đất nước thống nhất, trên cương vị Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam rồi Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, ông vừa làm công tác quản lý, vừa bền bỉ sáng tạo. Hơn nửa thế kỷ cầm bút, Nguyễn Đình Thi đã đi qua gần như toàn bộ những bước ngoặt lớn của lịch sử dân tộc thế kỷ XX. Cuộc đời ông là hành trình của một trí thức yêu nước, một nghệ sĩ dấn thân, người luôn hòa nhịp tài năng và tâm huyết của mình vào dòng chảy của đất nước, từ những ngày tiền khởi nghĩa đến công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước sau hòa bình.
Đánh giá về nhà thơ Nguyễn Đình Thi, GS Hà Minh Đức viết: “Người ta thường nói tài năng đến với cuộc đời không dự báo, và ra đi không hẹn ước. Nguyễn Đình Thi đã gắn bó với cuộc đời, sống hết mình, lao động bền bỉ, tài năng được nhân lên, thăng hoa và kết tinh ở những sản phẩm có giá trị lớn. Và cánh chim phượng đã bay về trời để lại bao tiếc nuối, yêu thương”.











