Chính phủ điều chỉnh phạm vi địa bàn hoạt động hải quan từ ngày 5-7
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 153/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 01/2015/NĐ-CP ngày 2-1-2015 quy định chi tiết phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; trách nhiệm phối hợp trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 12/2018/NĐ-CP ngày 23-1-2018 của Chính phủ.
Giảm số lượng cửa khẩu thuộc địa bàn hoạt động hải quan
Trong đó, Nghị định số 153/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 3 quy định phạm vi cụ thể địa bàn hoạt động hải quan tại khu vực cửa khẩu đường bộ, cửa khẩu biên giới đường thủy nội địa theo hướng đưa ra khỏi phạm vi địa bàn hoạt động hải quan đối với một số Cửa khẩu do không phát sinh hoạt động xuất nhập khẩu, chưa được Ủy ban nhân dân tỉnh công bố cho phép hoạt động xuất nhập khẩu, không bố trí cán bộ, công chức hải quan.

Hoạt động tại đơn vị xác định trọng điểm ma túy tại Hải quan Việt Nam.
Trước đây, Điều 3 của Nghị định số 01/2015/NĐ-CP quy định phạm vi cụ thể địa bàn hoạt động hải quan tại khu vực cửa khẩu đường bộ, cửa khẩu biên giới đường thủy nội địa là các khu vực có ranh giới xác định tại một cửa khẩu được mở trên tuyến đường bộ, đường thủy nội địa trong khu vực biên giới đất liền được quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định số 12/2018/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 01/2015/NĐ-CP, bao gồm có 88 cửa khẩu đường bộ thuộc 21 tỉnh.
Nội dung này được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 153/2026/NĐ-CP như sau: Phạm vi cụ thể địa bàn hoạt động hải quan tại khu vực cửa khẩu đường bộ, lối thông quan, đường chuyên dụng vận chuyển hàng hóa, cửa khẩu đường thủy nội địa, cửa khẩu đường sắt là các khu vực có ranh giới xác định tại một cửa khẩu được mở trên tuyến đường bộ, đường thủy nội địa trong khu vực biên giới đất liền được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; theo đó có 68 cửa khẩu đường bộ thuộc 22 tỉnh.
Đồng thời, Nghị định số 153/2026/NĐ-CP bổ sung thêm khoản 2 Điều 3 theo hướng mở: Đối với cửa khẩu, lối thông quan, đường chuyên dụng vận chuyển hàng hóa, lối mở biên giới hoặc địa điểm khác chưa được xác định là phạm vi địa bàn hoạt động hải quan theo quy định tại Nghị định này, khi được cơ quan có thẩm quyền mở, nâng cấp, công bố cho phép hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, có đủ lực lượng kiểm tra, kiểm soát chuyên ngành, điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật thì địa bàn hoạt động hải quan được xác định theo phạm vi khu vực cửa khẩu đã được Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định.
Điều chỉnh phạm vi địa bàn hoạt động hải quan ngoài khu vực cửa khẩu
Ngoài khu vực cửa khẩu, Nghị định số 153/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi nhiều quy định liên quan đến phạm vi địa bàn hoạt động hải quan ngoài khu vực cửa khẩu.

Lực lượng hải quan kiểm tra hàng hóa tại khu vực cửa khẩu đường bộ.
Nghị định số 153/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung các khoản 2, khoản 3, khoản 5, khoản 8, khoản 9 Điều 8 - Phạm vi cụ thể địa bàn hoạt động hải quan tại các khu vực ngoài cửa khẩu như sau:
"2. Trụ sở, kho hàng, cơ sở sản xuất của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng hóa chịu sự giám sát, kiểm soát hải quan tại các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu thương mại tự do, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, trung tâm tài chính quốc tế; trụ sở, kho hàng, cơ sở sản xuất của doanh nghiệp chế xuất; trụ sở, kho hàng, cơ sở sản xuất của tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa để gia công, sản xuất xuất khẩu; khu chế xuất; khu phi thuế quan; khu vực ưu đãi hải quan khác; khu vực hải quan riêng.
3. Khu vực cảng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa được thành lập trong nội địa, địa điểm thu gom hàng lẻ (CFS); kho hàng không kéo dài, kho ngoại quan, kho bảo thuế, kho bãi chứa hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh của các tổ chức vận tải kinh doanh và giao nhận hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh.
5. Trụ sở người khai hải quan khi kiểm tra sau thông quan hoặc khi kiểm soát hải quan, bao gồm: nơi làm việc, nơi sản xuất, nơi cung ứng các dịch vụ, kho bãi, nhà xưởng, nơi lưu giữ, bảo quản, thuê, gửi hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của người khai hải quan.
8. Khu vực, địa điểm kiểm tra thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại cơ sở sản xuất, cơ sở gia công lại, công trình, cơ sở gia công hàng hóa xuất khẩu.
9. Địa điểm kiểm tra tập trung; địa điểm tập kết, kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật".
Như vậy, phạm vi quản lý hải quan được bổ sung và cập nhật tại các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu thương mại tự do, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung và trung tâm tài chính quốc tế.
Bên cạnh đó, các địa điểm như kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ (CFS), kho hàng không kéo dài, địa điểm kiểm tra tập trung, khu vực tập kết và giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu cũng tiếp tục thuộc phạm vi hoạt động hải quan.
Nghị định đồng thời quy định rõ phạm vi kiểm tra, giám sát tại trụ sở người khai hải quan, cơ sở sản xuất, kho bãi, nhà xưởng và các địa điểm lưu giữ hàng hóa xuất nhập khẩu phục vụ công tác hậu kiểm và kiểm soát hải quan.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 5-7-2026.











