Chính phủ thông qua 4 nhóm chính sách sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
Chính phủ thông qua 4 nhóm chính sách xây dựng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), hướng tới quản lý tổng hợp và phát triển bền vững kinh tế biển.

Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn thiện các chính sách và tổ chức soạn thảo dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) theo đúng quy định, bảo đảm chất lượng, tiến độ và thời hạn trình cấp có thẩm quyền xem xét. Ảnh: Hồng Thắm.
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 182/NQ-CP thông qua đề xuất xây dựng 4 nhóm chính sách của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì hoàn thiện hồ sơ dự án luật, bảo đảm chất lượng và tiến độ theo quy định.
Theo Nghị quyết, Chính phủ thống nhất thông qua 4 nhóm chính sách do Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất tại Báo cáo số 6958/BC-BNNMT ngày 30/6/2026.
4 nhóm chính sách trọng tâm
Nhóm chính sách thứ nhất tập trung hoàn thiện quy định về quản lý, sử dụng không gian biển; giao, cho thuê, đăng ký khu vực biển; phân định rõ trách nhiệm trong quản lý và tổ chức thực thi, gắn với yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Theo đề xuất của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhóm chính sách này sẽ bổ sung các quy định về quản lý nhà nước đối với không gian biển; nguyên tắc quản lý, sử dụng không gian biển và khu vực biển; thiết lập cơ chế xử lý xung đột, chồng lấn trong sử dụng không gian biển; xây dựng chế định sử dụng khu vực biển đa mục đích; bổ sung quy định về giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển; quy định các hình thức cho phép tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển; bổ sung quy định điều chỉnh hoạt động xây dựng, quản lý đảo nhân tạo, công trình trên biển; xác định và quản lý khoảng lùi xây dựng trong vùng bờ.
Nhóm chính sách thứ hai tập trung hoàn thiện các quy định về chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển và tài sản gắn liền với khu vực biển; chuyển mục đích sử dụng khu vực biển; đồng thời quy định rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển, bảo đảm hài hòa giữa phát triển bền vững kinh tế biển với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển.
Đối với nhóm chính sách thứ ba, dự thảo luật sẽ hoàn thiện các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu, cải thiện và phục hồi môi trường, bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển, hải đảo.
Cụ thể, nhóm chính sách này sẽ sửa đổi, bổ sung các quy định về kiểm soát ô nhiễm từ đất liền ra biển; kiểm soát ô nhiễm đối với các hoạt động trên biển; gắn quản lý xả thải với quy hoạch không gian biển, hệ sinh thái biển, lưu vực sông ven biển và sức chịu tải của môi trường; khoanh định khu vực cấm, hạn chế xả thải; kiểm soát rác thải biển; các biện pháp ngăn chặn, kiểm soát xói lở bờ biển, bảo vệ địa hình tự nhiên, cảnh quan và khu vực bờ biển trước các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường; đồng thời bổ sung các biện pháp bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển.
Nhóm chính sách thứ tư hướng tới xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù và vượt trội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động kinh tế trên biển và hải đảo, tạo động lực khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của kinh tế biển.
Bước chuyển trong tư duy quản lý tổng hợp
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hệ thống 4 nhóm chính sách của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) được xây dựng theo phương thức quản lý tổng hợp, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật. Các chính sách hỗ trợ lẫn nhau, tạo thành một chỉnh thể quản trị biển hiện đại, vận hành xuyên suốt từ xác lập không gian biển đến thúc đẩy phát triển bền vững.
Trong đó, quản lý chặt chẽ nhằm phát triển bền vững, kết hợp với các cơ chế ưu đãi để thúc đẩy kinh tế biển, đồng thời bảo vệ môi trường và lợi ích quốc gia lâu dài trên biển được xác định là định hướng xuyên suốt. Đây được xem là bước chuyển quan trọng từ tư duy quản lý đơn ngành sang quản lý tổng hợp, phù hợp với xu thế quốc tế và yêu cầu phát triển của Việt Nam.
Theo định hướng này, chính sách thứ nhất đóng vai trò nền tảng trong việc xác lập trật tự pháp lý, khắc phục tình trạng chồng lấn và phân định rõ trách nhiệm quản lý không gian biển, bảo đảm mọi hoạt động khai thác, sử dụng biển gắn với quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia.
Trên nền tảng đó, chính sách thứ hai cụ thể hóa quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển, tạo môi trường pháp lý minh bạch, ổn định để thu hút đầu tư.
Song song với khai thác, chính sách thứ ba đóng vai trò kiểm soát ô nhiễm, bảo tồn hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển, góp phần xây dựng nền quản trị biển bền vững và hội nhập quốc tế.
Trong khi đó, chính sách thứ tư được kỳ vọng tạo động lực đột phá thông qua các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ vượt trội nhằm phát huy tiềm năng kinh tế biển, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển.
Theo Nghị quyết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm về nội dung báo cáo đề xuất; chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp cùng các bộ, ngành, địa phương và cơ quan liên quan tiếp thu tối đa ý kiến của các thành viên Chính phủ để hoàn thiện các chính sách, tổ chức soạn thảo dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), bảo đảm chất lượng, tiến độ và trình cấp có thẩm quyền theo đúng quy định.
Nghị quyết có hiệu lực kể từ ngày 8/7/2026.












