Chính sách theo Nghị định 178 không phải là cơ hội để vận dụng dễ dãi
Chính sách theo Nghị định 178 không phải là cơ chế “ai muốn nghỉ cũng được hưởng”, càng không phải là cơ hội để vận dụng chính sách theo hướng dễ dãi.
Việc Kiểm toán Nhà nước phát hiện hàng loạt vi phạm, sai sót trong thực hiện chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động theo Nghị định số 178/2024 và Nghị định số 67/2025 đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chấn chỉnh việc tổ chức thực hiện chính sách.
Chính sách cần thiết cho một cuộc cải cách lớn
Sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là một chủ trương lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình đổi mới phương thức quản trị quốc gia, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy. Nhưng bất cứ cuộc cải cách tổ chức nào cũng tác động trực tiếp đến con người.
Việc tổ chức lại bộ máy, giảm đầu mối, sáp nhập đơn vị, thay đổi mô hình tổ chức tất yếu dẫn đến tình trạng một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức và người lao động chịu ảnh hưởng, có thể dôi dư hoặc không còn phù hợp với yêu cầu, vị trí việc làm mới.

Hiệu quả của chính sách phụ thuộc rất lớn vào năng lực, trách nhiệm và sự liêm chính của những người tổ chức thực hiện. Ảnh: Thạch Thảo
Chính vì vậy, việc ban hành cơ chế, chính sách để giải quyết chế độ đối với những người chịu tác động của quá trình sắp xếp không chỉ là yêu cầu về mặt tổ chức mà còn thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.
Nghị định số 178/2024 và sau đó là Nghị định số 67/2025 được ban hành trong bối cảnh đó. Các quy định này đã kịp thời cụ thể hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; tạo hành lang pháp lý để các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai đồng bộ việc sắp xếp tổ chức, giải quyết chế độ, chính sách cho các đối tượng chịu tác động của quá trình tinh gọn bộ máy.
Thực tiễn triển khai việc thực hiện chính sách đã góp phần ổn định tâm lý cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình chuyển đổi; hỗ trợ việc cơ cấu lại nguồn nhân lực, bố trí lại vị trí việc làm và từng bước khắc phục tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ và sử dụng biên chế chưa phù hợp.
Nhưng hiệu quả của chính sách phụ thuộc rất lớn vào năng lực, trách nhiệm và sự liêm chính của những người tổ chức thực hiện. Một quy định đúng nhưng áp dụng tùy tiện vẫn có thể dẫn đến sai. Một chính sách nhân văn nhưng bị lợi dụng vẫn có thể trở thành gánh nặng cho ngân sách.
Sai ở khâu tổ chức thực hiện
Trước hết là những hạn chế trong việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chính sách. Một số địa phương chưa ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về tiêu chí để các đơn vị thống nhất trong việc rà soát, đánh giá, lựa chọn đối tượng. Một số cơ quan, đơn vị chưa ban hành tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức, viên chức; có nơi ban hành tiêu chí nhưng chưa lấy ý kiến tập thể lãnh đạo hoặc chưa căn cứ chức năng, nhiệm vụ và đặc thù của đơn vị để cụ thể hóa các tiêu chí thành phần. Đáng chú ý, có nơi chưa tiến hành rà soát tổng thể chất lượng đội ngũ để xác định đối tượng phải nghỉ việc do sắp xếp tổ chức bộ máy.
Đây không đơn thuần là sai sót về thủ tục. Bởi mục tiêu của chính sách không phải là giải quyết cho nghỉ việc càng nhiều càng tốt. Tinh thần quan trọng của việc sắp xếp là cơ cấu lại đội ngũ, sàng lọc những trường hợp không đáp ứng yêu cầu, đồng thời giữ lại những cán bộ, công chức, viên chức có năng lực, trình độ, kinh nghiệm và khả năng đóng góp lâu dài. Nếu không đánh giá đầy đủ, khách quan và thực chất thì việc xác định ai cần nghỉ, ai cần giữ lại rất dễ trở nên cảm tính hoặc dựa chủ yếu vào nguyện vọng cá nhân.
Một nhóm vi phạm đáng quan tâm khác là việc thẩm định và phê duyệt đối tượng hưởng chính sách chưa đúng quy định. Không ít trường hợp được xác định là “không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ” hoặc không đáp ứng tiêu chuẩn của vị trí việc làm, nhưng hồ sơ và kết quả đánh giá trong ba năm liền kề lại cho thấy cá nhân đó hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên. Có trường hợp còn nhiều năm công tác, được đánh giá đạt yêu cầu hoặc cao hơn nhưng vẫn được phê duyệt nghỉ theo diện không đáp ứng yêu cầu.
Cũng có trường hợp cho nghỉ và hưởng chính sách trong khi đơn vị không trực tiếp chịu tác động của việc sắp xếp tổ chức bộ máy; trường hợp nghỉ do sức khỏe nhưng hồ sơ thiếu tài liệu y tế và căn cứ chuyên môn; trường hợp hồ sơ chưa đủ cơ sở chứng minh cá nhân không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hoặc không đủ tiêu chuẩn nhưng vẫn được phê duyệt.
Những sai phạm này cho thấy một vấn đề đáng suy nghĩ: trong một số trường hợp, việc thực hiện chính sách dường như đã nghiêng về giải quyết nguyện vọng nghỉ việc hơn là thực hiện đúng mục tiêu cơ cấu lại đội ngũ. Trong khi đó, chính sách không phải là cơ chế “ai muốn nghỉ cũng được hưởng”, càng không phải là cơ hội để vận dụng chính sách theo hướng dễ dãi.
Ngoài ra là những trường hợp phê duyệt cho nghỉ khi số biên chế của đơn vị chưa bảo đảm hoặc không vượt khung; chưa rà soát đầy đủ điều kiện về thời gian làm việc ở vùng đặc biệt khó khăn; phê duyệt thời điểm nghỉ không phù hợp với các chỉ đạo liên quan đến việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp; thậm chí có trường hợp việc xác định thời điểm nghỉ làm thay đổi nhóm chính sách được hưởng.
Một hạn chế khác là việc đánh giá đội ngũ chưa thực chất. Có đơn vị không đánh giá toàn bộ cán bộ, công chức, viên chức theo các tiêu chí đã ban hành mà chỉ đánh giá những người có đơn xin nghỉ hưởng chính sách hoặc sử dụng kết quả đánh giá công chức hằng năm thay cho việc đánh giá phục vụ mục đích sắp xếp. Có nơi đơn vị sự nghiệp đã kết thúc hoạt động nhưng không giải quyết thôi việc ngay cho viên chức mà điều động nhân sự dôi dư sang đơn vị khác trước khi giải quyết chính sách.
Sai phạm cũng xảy ra trong khâu cuối cùng là xác định kinh phí và chi trả chế độ. Kiểm toán Nhà nước phát hiện việc xác định tiền lương làm căn cứ chi trả bao gồm một số khoản phụ cấp chưa đúng quy định; tính thừa trợ cấp tìm việc làm; tính sai số học; thanh toán không đúng với quyết định nghỉ hưu; xác định sai thời gian hưởng trợ cấp hoặc thời gian đóng bảo hiểm xã hội; sử dụng ngân sách nhà nước trong khi chưa sử dụng nguồn kinh phí của đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi thường xuyên. Có địa phương đã phát hiện chi trả sai đối tượng nhưng chưa thu hồi được hết số kinh phí đã chi.
Khắc phục sai phạm phải đi cùng xử lý trách nhiệm
Việc rà soát cần được thực hiện theo tinh thần không có vùng cấm, không nể nang. Trường hợp xác định sai đối tượng phải xem xét lại quyết định giải quyết chính sách; khoản chi sai phải thu hồi; hồ sơ thiếu căn cứ phải được kiểm tra, làm rõ; những trường hợp có dấu hiệu cố ý làm trái, lợi dụng chính sách để trục lợi cần được xử lý nghiêm theo quy định.
Tuy nhiên, thu hồi tiền mới chỉ là một phần của việc khắc phục hậu quả. Điều quan trọng hơn là phải xác định rõ trách nhiệm. Sai phạm trong thực hiện Nghị định 178 không phải tự nhiên xuất hiện. Mỗi quyết định cho nghỉ đều có quá trình rà soát, đánh giá, đề xuất, thẩm định và phê duyệt. Mỗi khoản tiền chi trả đều phải qua nhiều khâu kiểm tra. Vì vậy, không thể để tình trạng phát hiện sai phạm rồi chỉ chung chung “rút kinh nghiệm”.
Cần xác định trách nhiệm của từng khâu, từ cơ quan tham mưu tổ chức cán bộ, cơ quan thẩm định, cơ quan tài chính đến người có thẩm quyền quyết định. Đặc biệt phải đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Người đứng đầu không thể đứng ngoài những quyết định liên quan đến việc lựa chọn đối tượng và sử dụng một nguồn ngân sách rất lớn.
Sắp xếp tổ chức bộ máy không chỉ là giảm số lượng con người mà là xây dựng một bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, hướng đến mục tiêu sàng lọc, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ. Một chủ trương lớn luôn cần những chính sách đủ mạnh để đi vào cuộc sống. Nhưng chính sách càng đặc thù, mức hỗ trợ càng lớn thì yêu cầu kiểm soát càng phải chặt chẽ và công bằng, hợp lý.
