Chờ đất... (Bài cuối): Quỹ đất có, vì sao người dân vẫn phải chờ?
Trong khi hàng nghìn hộ dân vùng miền núi xứ Thanh vẫn thiếu đất ở, đất sản xuất để ổn định cuộc sống thì kết quả rà soát của tỉnh lại cho thấy một quỹ đất không hề nhỏ do các công ty nông, lâm nghiệp; các ban quản lý rừng; khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia quản lý không còn phù hợp hoặc sử dụng kém hiệu quả. Đây được xem là nguồn lực quan trọng có thể bổ sung cho địa phương để giải quyết nhu cầu đất đai của người dân. Thế nhưng, chủ trương đã có từ lâu, còn quá trình thu hồi, bàn giao quỹ đất này về địa phương thì vẫn diễn ra rất chậm.

Gia đình ông Lương Văn An, bản Tráng, xã Yên Thắng mong mỏi sớm có đất sản xuất. Ảnh: Đình Giang
Nghịch lý sử dụng đất gây lãng phí
Ở các xã biên giới Yên Khương, Yên Thắng, câu chuyện thiếu đất ở, đất sản xuất đã trở thành nỗi trăn trở kéo dài nhiều năm qua. Qua nhiều kỳ tiếp xúc cử tri, mong muốn lớn nhất của bà con vẫn là có thêm đất để phát triển sinh kế. Thế nhưng, ngay ở dải đất vùng biên ấy lại đang tồn tại một nghịch lý: Hàng trăm héc-ta đất lâm nghiệp được giao cho doanh nghiệp quản lý triển khai dự án cao su từ năm 2009 với tổng diện tích hơn 882ha, nhưng cho đến nay, việc sử dụng không hiệu quả, thậm chí nhiều diện tích bỏ hoang suốt hàng thập kỷ.
Thôn Tráng có hơn 700 nhân khẩu, phần lớn sống bằng nghề rừng nhưng quỹ đất sản xuất rất hạn hẹp. Trong khi đó, hơn 200ha cao su trên địa bàn chỉ có một phần nhỏ diện tích được khai thác, phần lớn bỏ hoang hoặc sinh trưởng kém. Ông Lương Văn Dần, Bí thư Chi bộ bản Tráng, cho rằng: “Nếu diện tích này được giao cho người dân trồng keo, luồng và các loại cây lâm nghiệp phù hợp thì đời sống của bà con sẽ khá hơn rất nhiều”. Câu chuyện tương tự cũng diễn ra tại xã Yên Khương. Cùng thời điểm, theo Quyết định 784/QĐ-UBND năm 2009, hơn 191ha đất tại xã được giao để triển khai dự án cao su. Tuy nhiên, sau gần 20 năm, dự án vẫn chưa hoàn thành giải phóng mặt bằng, chưa triển khai trồng cao su.
Từ thực tế đó, chính quyền các xã Yên Khương, Yên Thắng mới đây đã có các văn bản đề nghị UBND tỉnh Thanh Hóa và các ngành chức năng dừng triển khai dự án trên diện tích chưa thực hiện, đồng thời bàn giao lại quỹ đất để người dân các xã biên giới tiếp tục phát triển kinh tế lâm nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên và định hướng phát triển của địa phương.
Không chỉ dự án cao su, quá trình rà soát tại các Vườn Quốc gia Xuân Liên, Vườn Quốc gia Bến En; các khu bảo tồn và các ban quản lý rừng phòng hộ cũng cho thấy hàng nghìn héc-ta đất rừng sản xuất, đất ngoài quy hoạch lâm nghiệp không còn sử dụng hiệu quả, được các chủ rừng đề xuất bàn giao lại cho địa phương. Đây được xem là nguồn lực đất đai rất lớn. Nếu được thu hồi, bàn giao kịp thời, quỹ đất này sẽ mở ra cơ hội giải quyết căn cơ bài toán thiếu đất ở, đất sản xuất cho người dân miền núi, thay vì để nguồn lực tiếp tục bị bỏ ngỏ.
Gỡ “nút thắt” - sớm giao đất về cho người dân
Những kết quả rà soát trong thời gian qua cho thấy, quỹ đất có thể bổ sung để giải quyết nhu cầu thiếu đất ở, đất sản xuất cho người dân miền núi tỉnh Thanh Hóa là không hề nhỏ. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, hàng nghìn héc-ta đất do các công ty nông, lâm nghiệp và các ban quản lý rừng phòng hộ quản lý đã được rà soát, đề xuất thu hồi hoặc đã có quyết định thu hồi bàn giao về địa phương. Tuy nhiên, quá trình thực hiện đang bộc lộ nhiều “điểm nghẽn” cần phải tháo gỡ.
Đến nay, hơn 1.083ha đất của các công ty nông nghiệp, 458ha đất của các công ty lâm nghiệp và hơn 1.624ha đất của các ban quản lý rừng phòng hộ đã có quyết định thu hồi, bàn giao. Bên cạnh đó, hàng nghìn héc-ta khác đang tiếp tục được các sở, ngành hoàn thiện hồ sơ để trình UBND tỉnh xem xét thu hồi theo quy định. Dù vậy, ngoài một số địa phương đã hoàn thành việc tiếp nhận, phần lớn diện tích vẫn chưa thể hoàn tất thủ tục bàn giao trên thực địa.

Đất dự án trồng cao su hơn 20 năm để không.
Câu chuyện tại Công ty Lâm nghiệp Lang Chánh là một ví dụ điển hình. Cuối năm 2021, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 5186/QĐ-UBND thu hồi hơn 458ha đất của công ty để giao về các địa phương trên địa bàn huyện Lang Chánh cũ quản lý. Cùng với đó, nhiều diện tích đất của Ban Quản lý rừng phòng hộ Lang Chánh và Đồn Biên phòng Yên Khương cũng đã được thống nhất chủ trương có quyết định thu hồi, bàn giao về địa phương. Thế nhưng, sau nhiều năm, phần lớn diện tích trên vẫn chưa thể đến với người dân.
Ông Lê Minh Cường, Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Lang Chánh, lý giải: Việc bàn giao gặp nhiều khó khăn do chưa hoàn thành công tác đo đạc, cắm mốc ranh giới, lập bản đồ địa chính và phương án sử dụng đất đối với phần diện tích còn lại của đơn vị. Đây đều là những hạng mục đòi hỏi nguồn kinh phí lớn, trong khi đơn vị và địa phương chưa thể tự cân đối để thực hiện.
Không chỉ riêng Lang Chánh, tình trạng này cũng diễn ra ở nhiều địa phương khác. Tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Như Thanh, từ năm 2021 đơn vị đã phối hợp với chính quyền địa phương rà soát diện tích đất không còn nhu cầu sử dụng để đề xuất bàn giao. Đến nay, mới chỉ một phần diện tích được thực hiện trích đo, phần còn lại vẫn chưa hoàn tất các thủ tục cần thiết nên chưa thể trình cấp có thẩm quyền thu hồi và bàn giao về địa phương quản lý.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, hiện toàn tỉnh có 10 công ty nông, lâm nghiệp và 8 ban quản lý rừng phòng hộ đang quản lý quỹ đất lớn có nguồn gốc từ các nông, lâm trường. Trong khi hàng nghìn hộ dân miền núi vẫn thiếu đất ở, đất sản xuất thì việc thu hồi, bàn giao quỹ đất này về địa phương còn diễn ra chậm do nhiều vướng mắc. Đáng chú ý nhất là kinh phí đo đạc, cắm mốc, lập bản đồ địa chính; nhiều diện tích nằm ở vùng sâu, vùng xa, địa hình phức tạp, còn tồn tại hợp đồng giao khoán hoặc chồng lấn với đất người dân nên việc hoàn thiện hồ sơ kéo dài.
Ông Nguyễn Hoài Nam, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, cho biết: Từ đầu năm 2026, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh việc chỉ đạo các chủ rừng, công ty nông, lâm nghiệp rà soát quỹ đất, diện tích rừng; đồng thời hoàn thiện trình tự, thủ tục thu hồi diện tích do các đơn vị tự nguyện trả lại. Quan điểm của tỉnh là tháo gỡ từng nhóm vướng mắc, ưu tiên hoàn thiện hồ sơ đối với các diện tích đủ điều kiện để sớm bàn giao về địa phương.
Theo ông Nam, một trong những “điểm nghẽn” lớn hiện nay là công tác trích đo địa chính. Phần lớn các chủ rừng là đơn vị sự nghiệp nên gặp khó khăn về kinh phí để thực hiện trích đo. Trong khi đó, chỉ khi hoàn thành trích đo mới có cơ sở xác định chính xác diện tích chồng lấn, làm căn cứ thu hồi và bàn giao đất về địa phương. Để tháo gỡ khó khăn này, tỉnh đang triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai theo đề án đã được phê duyệt, đồng thời tổ chức rà soát, cập nhật hiện trạng rừng trên địa bàn toàn tỉnh. Khi các dữ liệu này được đồng bộ, việc xác định ranh giới, diện tích chồng lấn sẽ thuận lợi hơn, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ thu hồi, bàn giao đất. Cùng với đó, việc phân cấp thẩm quyền thu hồi đất cho Chủ tịch UBND cấp xã cũng sẽ nâng cao tính chủ động của địa phương.
Việc rà soát, thu hồi và bàn giao quỹ đất không chỉ nhằm khắc phục những bất cập kéo dài trong quản lý đất đai, mà còn mở ra cơ hội hiện thực hóa mong mỏi có đất ở, đất sản xuất của hàng nghìn hộ dân miền núi. Khi những “điểm nghẽn” về hồ sơ, đo đạc và kinh phí được tháo gỡ, quỹ đất sẽ thực sự trở thành nguồn lực phát triển thay vì tiếp tục nằm trên giấy. Và chỉ khi ấy, hành trình “chờ đất” kéo dài suốt nhiều năm của người dân miền núi xứ Thanh mới có thể đi đến hồi kết.











