Chồng mất tích, vợ ly hôn được không?

*Bạn đọc hỏi: chị Nguyễn Thị L., trú tại phường Hội An Tây (TP Đà Nẵng) hỏi: Tôi và anh Lê Văn T. kết hôn với nhau vào năm 2018 và có 1 người con năm nay được 8 tuổi. Tháng 4/2020, anh T. theo bạn bè đi làm ăn xa, thời gian đầu gia đình vẫn liên lạc được với anh. Tuy nhiên, đến cuối tháng 9/2020, chúng tôi mất hoàn toàn liên lạc với anh T. Mặc dù gia đình đã tìm mọi cách liên hệ với bạn bè cùng làm ăn, công ty nơi anh T. đi làm và thực hiện nhiều biện pháp như trình báo cơ quan công an, đăng thông tin tìm kiếm qua báo, đài nhưng vẫn không có tin tức gì về anh. Đến nay, tôi gặp và quen biết với anh Trương Văn Đ., cả hai đều có tình cảm và có ý định tiến tới hôn nhân nhưng tôi không biết phải làm như thế nào. Bây giờ tôi muốn ly hôn với anh T. thì có được hay không? Và tài sản khi ly hôn sẽ được giải quyết như nào?

Luật sư Trương Đức Trung

Luật sư Trương Đức Trung

* Luật sư Trương Đức Trung - Trưởng chi nhánh Quảng Nam - Văn phòng Luật sư Phong & Partners, trả lời:

Trong đời sống thực tế, không ít trường hợp một người bỗng “bặt vô âm tín” trong thời gian dài, kéo theo hàng loạt hệ quả pháp lý liên quan đến quyền nhân thân, quyền tài sản cũng như mối quan hệ hôn nhân - gia đình. Khi một người bỗng nhiên không còn tin tức, không chỉ các quyền, nghĩa vụ dân sự của họ bị “đóng băng”, mà đời sống của những người thân, đặc biệt là vợ hoặc chồng cũng rơi vào tình trạng pháp lý nhiều vướng mắc. Câu hỏi lớn thường được đặt ra là: quan hệ vợ chồng sẽ được giải quyết như thế nào khi một bên mất liên lạc? Người còn lại có quyền yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống mới hay không? Và nếu được ly hôn thì việc quản lý, phân chia tài sản sẽ xử lý ra sao trong bối cảnh một bên vắng mặt? Đây là những vấn đề có ý nghĩa thực tiễn, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.

Đối với trường hợp này, pháp luật không cho phép đương sự được ly hôn ngay lập tức chỉ vì một bên đã mất liên lạc trong thời gian dài mà đặt ra yêu cầu phải có cơ sở pháp lý rõ ràng về việc mất tích. Cụ thể, để yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với một người mất tích nhiều năm, trước hết, người còn lại cần phải thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố người kia mất tích theo quy định. Chỉ khi quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực, Tòa án mới có căn cứ để xem xét, giải quyết yêu cầu ly hôn của người còn lại. Do đó, chị L. có thể tham khảo ý kiến tư vấn của Luật sư như dưới đây.

Thứ nhất, về thủ tục tuyên bố một người mất tích theo quy định của pháp luật.

Một người biệt tích một khoản thời gian dài không đương nhiên được thừa nhận là mất tích nếu không có Quyết định tuyên bố một người mất tích có hiệu lực của Tòa án. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trường hợp tuyên bố mất tích đối với một người như sau:

“Điều 68. Tuyên bố mất tích

1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.”

Theo thông tin chị L. cung cấp, lần cuối cùng chị và gia đình liên lạc được với anh T. là vào cuối tháng 9/2020. Sau khi mất liên lạc với anh T., chị và gia đình đã thực hiện các biện pháp tìm kiếm như trình báo công an, đăng tin tìm kiếm trên báo đài nhưng vẫn không có tin tức gì về anh. Do đó, hiện tại chị L có thể làm đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền tuyên bố anh T. mất tích, vì tính đến nay, anh T. đã biệt tích được 6 năm.

Để yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T. mất tích, chị L. cần chuẩn bị 1 bộ hồ sơ sau đây và nộp tại Tòa án khu vực nơi cư trú cuối cùng của anh T.:

- Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích;

- Bản sao căn cước công dân/ căn cước của chị L.;

- Bản sao giấy đăng ký kết hôn của chị L. và anh T.;

- Tài liệu, chứng cứ chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt tích 2 năm liên tục trở lên mà không có bất cứ thông tin xác thực nào về việc người này còn sống hay đã chết;

- Giấy tờ chứng minh việc đã sử dụng các biện pháp thông báo tìm kiếm của người yêu cầu với người bị tuyên bố mất tích.

Sau khi Tòa án xem xét hồ sơ, nếu hồ sơ của chị L. đầy đủ và hợp lệ, Tòa án sẽ tiến hành thụ lý vụ việc. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích.

Thời hạn thông báo tìm kiếm là 4 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên theo quy định. Hết thời hạn này, nếu vẫn không có tin tức xác thực về anh T. thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn thông báo tìm kiếm nêu trên, Tòa án sẽ mở phiên họp xét đơn yêu cầu.

Trên cơ sở đó, nếu xác định đã áp dụng đầy đủ các biện pháp tìm kiếm nhưng không có kết quả, Tòa án sẽ ban hành quyết định tuyên bố anh T. mất tích theo quy định pháp luật. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để chị L. tiếp tục thực hiện các thủ tục liên quan, bao gồm việc yêu cầu giải quyết ly hôn và các vấn đề về tài sản theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Thứ hai, giải quyết quan hệ hôn nhân khi một người bị tuyên bố mất tích

Sau khi quyết định tuyên bố một người bị mất tích có hiệu lực thì chị L. có thể yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền tiếp tục giải quyết vấn đề ly hôn giữa chị và anh T. Theo quy định khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”.

Như vậy, khác với các trường hợp ly hôn đơn phương thông thường, khi giải quyết ly hôn trong trường hợp một bên đã bị Tòa án tuyên bố mất tích thì Tòa án không đặt ra yêu cầu phải xem xét vấn đề mâu thuẫn vợ chồng có trầm trọng hay không, đời sống chung có thể kéo dài hay không (theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014). Thay vào đó, chỉ cần có căn cứ pháp lý xác định một bên đã bị tuyên bố mất tích là đã đủ cơ sở để Tòa án xem xét, giải quyết cho ly hôn theo yêu cầu của bên còn lại.

Do đó, trong trường hợp của chị L., sau khi quyết định tuyên bố anh T. mất tích có hiệu lực pháp luật thì chị L. hoàn toàn có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết cho ly hôn theo quy định.

Hồ sơ yêu cầu ly hôn với một người mất tích bao gồm:

- Đơn khởi kiện ly hôn;

- Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao căn cước công dân/căn cước;

- Bản sao quyết định tuyên bố một người mất tích;

- Bản sao giấy khai sinh của con;

- Bản sao tài liệu, giấy tờ về quyền sở hữu tài sản (trong trường hợp có yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung).

Thứ ba, giải quyết vấn đề tài sản chung khi ly hôn với một người bị tuyên bố mất tích

Trong trường hợp ly hôn do vợ hoặc chồng mất tích thì vấn đề tài sản chung vợ chồng sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng như pháp luật dân sự có liên quan.

Đối với tài sản chung của vợ chồng, việc phân chia vẫn được thực hiện theo các nguyên tắc quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cụ thể:

“Điều 59 Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.”

Mặc dù một bên đã bị tuyên bố mất tích và không thể trực tiếp tham gia vào quá trình Tòa án giải quyết ly hôn nhưng việc phân chia tài sản vẫn được Tòa án giải quyết trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc công bằng, có xem xét đầy đủ các yếu tố liên quan đến quá trình hình thành và duy trì khối tài sản của vợ chồng.

Tuy nhiên, đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người bị tuyên bố mất tích thì việc giải quyết không dừng lại ở việc phân chia theo nguyên tắc nêu trên, mà còn phải đặt trong bối cảnh người này vắng mặt và không thể trực tiếp quản lý tài sản của mình. Do đó, pháp luật có quy định riêng về việc quản lý phần tài sản này sau khi ly hôn.

Cụ thể, phần tài sản của người bị tuyên bố mất tích sau khi ly hôn được xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều 69 Bộ luật dân sự 2015 như sau: “Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích ly hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.”

Quy định này được đặt ra nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tuyên bố mất tích trong trường hợp họ trở về. Theo những gì chị L. đã nêu ở trên thì chị và anh T. có một người con năm nay 8 tuổi, tức là vẫn chưa thành niên, do đó, tài sản của anh T. sẽ được giao cho cha, mẹ của anh T. quản lý; nếu cha, mẹ anh T. không còn thì giao cho người thân thích, họ hàng của anh T. quản lý; nếu không có người thân thích thì Tòa án sẽ chỉ định người quản lý theo quy định.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật sư liên quan đến việc ly hôn và giải quyết tài sản khi một bên bị tuyên bố mất tích dựa trên các thông tin mà chị L. cung cấp. Theo đó, để được Tòa án giải quyết ly hôn, chị L. phải thực hiện thủ tục yêu cầu tuyên bố mất tích theo quy định và chỉ khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân giữa chị với anh T. mới chấm dứt. Khi đó, chị L. có thể thực hiện việc đăng ký kết hôn với anh Trương Văn Đ. để tiến đến hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.

Chuyên mục này có sự hợp tác về chuyên môn của Văn phòng Luật sư Phong & Partners. Đường dây nóng hỗ trợ tư vấn: 0236.3822678 - 0905.102425

Nguồn CAĐN: https://cadn.com.vn/chong-mat-tich-vo-ly-hon-duoc-khong-post340276.html