Chủ tịch Viện Hàn lâm chỉ ra 4 lý do Việt Nam phải đầu tư công nghệ lượng tử

Theo Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Trần Hồng Thái, công nghệ lượng tử là lĩnh vực còn nhiều thách thức, nhưng Việt Nam không thể chờ đến khi thế giới hoàn thiện mới bắt đầu tham gia.

Theo Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Trần Hồng Thái, có những công nghệ khi sản phẩm đã hình thành mới bắt đầu học hỏi vẫn còn kịp, nhưng với các công nghệ chiến lược như lượng tử, nếu đợi đến khi tiêu chuẩn được xác lập, thị trường định hình và chuỗi cung ứng đã nằm trong tay các quốc gia đi trước thì cơ hội tham gia sẽ rất hạn chế. Ảnh: VAST.

Theo Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Trần Hồng Thái, có những công nghệ khi sản phẩm đã hình thành mới bắt đầu học hỏi vẫn còn kịp, nhưng với các công nghệ chiến lược như lượng tử, nếu đợi đến khi tiêu chuẩn được xác lập, thị trường định hình và chuỗi cung ứng đã nằm trong tay các quốc gia đi trước thì cơ hội tham gia sẽ rất hạn chế. Ảnh: VAST.

Tháng 5/2026, Thủ tướng đã ban hành danh mục công nghệ chiến lược và danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược, để tập trung nguồn lực phát triển các lĩnh vực công nghệ lõi và các sản phẩm có tác động lớn đến tăng trưởng kinh tế và an ninh quốc gia. Theo đó trong nhóm thứ hai là các sản phẩm công nghệ tạo động lực tăng trưởng mới, công nghệ nền tảng cho tương lai và công nghệ bảo đảm tự chủ trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng. Truyền thông lượng tử, tính toán lượng tử và cảm biến lượng tử là công nghệ chiến lược nằm trong nhóm này.

Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị đã đề cập trực tiếp đến công nghệ lượng tử (quantum technology) và xác định đây là một trong những công nghệ chiến lược mà Việt Nam cần ưu tiên phát triển. Trong đó, công nghệ lượng tử được đặt ngang hàng với AI, bán dẫn, 5G/6G và blockchain, nhóm công nghệ mà Việt Nam hướng tới làm chủ.

Phát biểu tại Hội thảo khoa học “Công nghệ lượng tử trong kỷ nguyên mới: Xu hướng quốc tế, cơ hội và yêu cầu đặt ra cho Việt Nam” vừa qua, ông Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng nhận thức lý luận và tư duy chính sách chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành cách làm, thành cơ chế, thành tổ chức thực hiện và cuối cùng là năng lực cụ thể.

Theo ông, điều cần trả lời hiện nay không chỉ là công nghệ lượng tử là gì, mà quan trọng hơn là vì sao Việt Nam cần quan tâm đến lĩnh vực này ngay ở thời điểm hiện tại và nếu lựa chọn phát triển thì phải đi theo con đường nào cho phù hợp.

Công nghệ lượng tử không thể chờ đến khi mọi thứ đã rõ ràng

Theo Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, công nghệ lượng tử là một lĩnh vực đặc biệt khó, từ khoa học, công nghệ, hạ tầng đến nguồn nhân lực và cách thức tổ chức triển khai. Nhiều hướng nghiên cứu trên thế giới vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm và kiểm chứng, chưa thể ngay lập tức tạo ra sản phẩm, thị trường hay ứng dụng đại trà.

Tuy nhiên, ông nhấn mạnh chính vì khó nên Việt Nam càng không thể đứng ngoài cuộc.

Ông cho rằng có những công nghệ khi sản phẩm đã hình thành mới bắt đầu học hỏi vẫn còn kịp, nhưng với các công nghệ chiến lược như lượng tử, nếu đợi đến khi tiêu chuẩn được xác lập, thị trường định hình và chuỗi cung ứng đã nằm trong tay các quốc gia đi trước thì cơ hội tham gia sẽ rất hạn chế.

Theo ông Trần Hồng Thái, nhiều quốc gia đã xác định công nghệ lượng tử là hướng phát triển chiến lược. Không phải tất cả các hướng nghiên cứu lượng tử đều đã chín muồi. Không phải mọi kỳ vọng đều chắc chắn trở thành hiện thực. Nhưng xu thế lớn thì đã rất rõ ràng: các nguyên lý lượng tử đang từng bước được đưa vào tính toán, truyền thông, bảo mật, cảm biến, đo lường chính xác, vật liệu, quang tử, thiết bị và nhiều công nghệ hỗ trợ khác.

Lý do thứ hai, rất gần với Việt Nam, là vấn đề an toàn dữ liệu. Nếu trong tương lai xuất hiện các máy tính lượng tử đủ mạnh, một số hệ mật mã đang được sử dụng rộng rãi hiện nay có thể đối mặt với những rủi ro rất lớn. Dữ liệu có thể bị thu thập từ hôm nay, lưu trữ lại và chờ đến khi có đủ điều kiện kỹ thuật để giải mã trong tương lai.

Lý do thứ ba là công nghệ lượng tử có thể tạo ra những năng lực mới về đo lường, cảm biến, mô phỏng, tính toán và vật liệu. Những năng lực đó không chỉ phục vụ khoa học cơ bản mà còn có thể ứng dụng trong quốc phòng, an ninh, viễn thông, tài chính, y tế, năng lượng, tài nguyên, môi trường và công nghiệp công nghệ cao.

Lý do thứ tư là vấn đề nhân lực. Nhân lực cho công nghệ lượng tử không thể đào tạo trong vài tháng và cũng không thể có ngay chỉ bằng một khóa tập huấn ngắn hạn. Đây là nguồn nhân lực liên ngành, bao gồm vật lý, toán học, khoa học máy tính, mật mã, quang tử, vật liệu, điện tử, điều khiển, đo lường, phần mềm và dữ liệu.

Từ thực tiễn đó, ông Trần Hồng Thái cho rằng Việt Nam cần lựa chọn cách tiếp cận phù hợp.

"Chúng ta phải chủ động nhưng không nóng vội; không chạy đua toàn diện với các cường quốc nhưng cũng không đứng ngoài quan sát. Chúng ta phải đi sớm về nhận thức, đi chắc về nền tảng và đi đúng vào những khâu tạo ra năng lực thực chất, phù hợp với điều kiện của Việt Nam", ông nhấn mạnh.

Theo ông, mặc dù nguồn lực, nhân lực và hạ tầng nghiên cứu của Việt Nam còn phân tán, song nếu được tổ chức tốt hoàn toàn có thể tạo thành sức mạnh tổng hợp. Muốn vậy cần xây dựng các nhóm nghiên cứu nòng cốt, phòng thí nghiệm dùng chung, mạng lưới chuyên gia, nền tảng tính toán và hệ thống dữ liệu dùng chung.

Kết nối nguồn lực để hình thành hệ sinh thái công nghệ lượng tử

Theo Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, thời gian qua Viện đã bước đầu phối hợp với nhiều cơ quan, đơn vị để kết nối nguồn lực như Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Ban Cơ yếu Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương, Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TPHCM, Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học VinUni, Đại học Phenikaa, Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành cùng nhiều cơ sở nghiên cứu, đào tạo khác.

Ông Trần Hồng Thái cho biết, công nghệ lượng tử không chỉ là lĩnh vực của vật lý lượng tử mà còn liên quan trực tiếp đến an toàn thông tin, mật mã, quốc phòng, an ninh, công nghiệp, giáo dục đại học, ngoại giao khoa học, đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ và nhiều lĩnh vực ứng dụng mới. Vì vậy, mạng lưới phối hợp trong nước là điều kiện cần để xây dựng cách tiếp cận liên ngành, liên cơ quan, gắn nghiên cứu với nhu cầu ứng dụng thực tế.

Song song với đó, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng đã chủ động trao đổi, tham vấn với nhiều đối tác quốc tế đến từ Liên bang Nga, Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc cùng các tổ chức quốc tế, chuyên gia nước ngoài và các nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài trong nhiều lĩnh vực liên quan đến công nghệ lượng tử.

Theo ông Trần Hồng Thái, các hoạt động hợp tác này giúp Việt Nam cập nhật xu thế phát triển của thế giới, nhận diện rõ hơn các giới hạn kỹ thuật, đánh giá khả năng triển khai trên thực tế và lựa chọn hướng đi phù hợp với điều kiện trong nước.

Thái Khang

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/chu-tich-vien-han-lam-chi-ra-4-ly-do-viet-nam-phai-dau-tu-cong-nghe-luong-tu-2535522.html