Chùa Khai Nguyên: Ngôi chùa cổ kính - nơi lưu giữ nhiều giá trị lịch sử giữa lòng Hà Nội
Nằm trong ngõ nhỏ đông đúc giữa phố thị tấp nập, chùa Khai Nguyên, còn gọi là Chùa Quán La, thuộc địa bàn Phường Xuân Đỉnh, Hà Nội mang vẻ đẹp thanh tịnh, cổ kính, nơi lưu giữ nhiều giá trị lịch sử.

Chùa Khai Nguyên được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia. (Ảnh: Thái Hà/Vietnam+)
Nằm trong ngõ nhỏ đông đúc giữa phố thị tấp nập, chùa Khai Nguyên mang trong mình vẻ đẹp vừa thanh tịnh vừa cổ kính, có lịch sử hình thành lâu đời, là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa và lịch sử dân tộc.
Lịch sử hình thành từ lâu đời
Phường Xuân Đỉnh (trước sáp nhập tháng 7/2025 là Phường Xuân La), nơi đây có làng Quán La Xã, tên cổ là đỗng Dà La, một vùng đất có nhiều gò cao ở phía Tây Hồ Tây của Hà Nội.
Cho đến thế kỷ 10, từng có sông Thiên Phù chảy qua bến Lâm Ấp ở Dà La, phía bắc thông ra sông Hồng ở bến Nhật Tân, phía nam nối với sông Tô Lịch ở vùng Bưởi. Dân Dà La thời đó đông đúc, có nghề trồng lúa, đánh cá và buôn bán. Đầu thế kỷ 11, sông Thiên Phù bị vùi lấp, đỗng Dà La không còn lợi thế giao thông quan trọng.
Vào đời Vua Đường Minh Hoàng, niên hiệu Khai Nguyên, thứ sử Quảng Châu là Lư Hoán sang giữ Giao Châu, đóng quân lập phủ ở Dà La, đổi tên đỗng thành thôn An Viễn. Đạo Giáo thời đó đang phát triển, Lư Hoán cho dựng quán Khai Nguyên trên gò Thất Diệu để thờ thần Huyền Thiên Trấn Vũ. Về sau thôn An Viễn lại đổi theo tên quán thành thôn Khai Nguyên, dân quen gọi nôm na là làng Quán La.
Quán Khai Nguyên suốt mấy trăm năm từng có nhiều đạo sỹ tới tu luyện trước khi đạo Giáo suy thoái. Thời Lý, các vị vua đóng đô ở Liễu Giai gần đó nên thường đến thăm. Vào đời Vua Trần Dụ Tông (1341-1369), nhà sư Vân Thao cho trùng tu quán rồi đổi thành chùa, đặt tên là An Dưỡng tự. Về sau, sư bỏ đi nơi khác, chùa bị hoang phế, dân chuyển làm miếu thờ Sơn thần, nay vẫn còn dấu tích ở trước cổng đình Quán La.
Đến cuối thế kỷ 17, dưới thời Lê Trung Hưng, chùa mới được dựng lại trên một khoảnh đất bằng phẳng cạnh đình Quán La gần gò Thất Diệu và đổi tên là Khai Nguyên tự.
Ngày nay, ở bên phải lối vào cổng phụ của ngôi chùa ở phía đông có một gốc đa cổ thụ cũng được gắn biển “Cây di sản Việt Nam.” Qua cổng này là một ngõ dài đi vào sân chùa trước, xuyên qua khu vườn nhiều cây cối.

Không gian trầm mặc, thanh tịnh của Chùa Khai Nguyên. (Ảnh: Thái Hà/Vietnam+)
Ngôi chùa giàu giá trị văn hóa và kiến trúc nghệ thuật đặc sắc
Chùa Khai Nguyên có phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp và khuôn viên chùa hài hòa với các cầu sắt bắc ngang, hồ bán nguyệt, kè đá, các khu vườn tự nhiên, gần gũi và mang đậm nét truyền thống.
Hiện khu chùa chính được xây dựng và trang trí đơn giản ít cửa võng. Toà Tam bảo nhìn về hướng nam ra sân gạch lớn. Tiền đường 7 gian và hậu điện sâu 3 gian, rộng rãi, cao ráo, lại có cửa ngách tạo sáng. Hai bên là hai dãy hành lang dài nối xuống nhà hậu
Cổng phụ của chùa ở phía nam đi thẳng vào sân trước khu chùa chính, ở bên trái và phía sau là khu nhà Tổ, nhà Mẫu và nhà Tăng. Khu này có một sân gạch khác nhìn ra hồ bán nguyệt đắp kè đá, có cầu sắt bắc ngang, ở giữa cầu dựng tượng Quán thế âm Bồ tát bằng cẩm thạch trắng. Phía tây - bắc chùa là khu phụ và một vườn cây nữa, diện tích khá rộng.
Trong chùa có quả chuông khắc tên “Khai Nguyên tự chung,” được đúc vào tháng Chạp năm đầu niên hiệu Thiệu Trị (khoảng đầu năm 1842), sau khi quả chuông đúc năm Nhâm Thân niên hiệu Chính Hòa (1692) bị thất lạc. Chùa Khai Nguyên hiện lưu giữ một cuốn sách gỗ (mộc thư) có ba chữ “Khai Nguyên tự.” Chùa còn có tấm bia niên hiệu Thái Đức thứ 11 triều Tây Sơn (1778) nói về quá trình tu bổ chùa.
Bên dưới các pho tượng Phật tam thế, ở tầng thứ 5 giữa chính điện có bày tượng Quán thế âm thiên thủ thiên nhãn ngồi phía sau các tượng Cửu Long và Tuyết Sơn đầu quấn khăn, lưng khoác vải.
Điều đặc biệt là ở hai đầu hồi tiền đường còn có nhiều bức tượng nằm trong các động đá nhỏ. Ngoài các tượng khác thường thấy trong chùa như tượng Đức Ông, Thánh hiền, Hộ pháp, Thập điện Diêm vương và bộ tượng Mẫu, lại có một pho nữa được cho là tạc Vua Đường Minh Hoàng.
Chùa Khai Nguyên gìn giữ nhiều giá trị về cổ sử, có giá trị cao về kiến trúc nghệ thuật cùng với một cảnh quan thoáng đẹp đã hòa quyện vào nhau, là trung tâm đoàn kết dân cư trong vùng, vào ngày các ngày Rằm, lễ, Tết thường thu hút đông đảo du khách thập phương tới tham quan, đồng thời, là nơi giáo dục con người hướng về cái thiện, khơi dậy lòng yêu quê hương đất nước và các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Chùa đã được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia tại Quyết định số 138/QĐ ngày 31/01/1992 và được tu bổ, tôn tạo quy mô lớn vào năm 2015./.
