Chương trình mục tiêu quốc gia: Cấp bách giải ngân, tiến tới vận hành đồng bộ

Tiến độ giải ngân các Chương trình mục tiêu quốc gia 9 tháng năm 2026 đạt rất thấp ở cả nguồn vốn mới lẫn vốn kéo dài, dồn áp lực lớn vào quý IV. Trước quy mô hơn 808.000 tỷ đồng giai đoạn 2026-2030, việc tháo gỡ vướng mắc cơ chế, mặt bằng và siết trách nhiệm người đứng đầu là đòi hỏi cấp thiết để chương trình vận hành đồng bộ từ năm 2027.

Tháo gỡ điểm nghẽn của năm 2026 là nhiệm vụ cấp bách trong quý cuối năm 2026. Ảnh: LAN PHƯƠNG

Tháo gỡ điểm nghẽn của năm 2026 là nhiệm vụ cấp bách trong quý cuối năm 2026. Ảnh: LAN PHƯƠNG

Áp lực giải ngân vốn mới và vốn kéo dài trong quý cuối năm

Năm 2026 là năm đầu triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030, tuy nhiên, tiến độ giải ngân sau 9 tháng vẫn chưa đạt yêu cầu. Theo Nghị quyết của Quốc hội, tổng vốn ngân sách trung ương thực hiện các chương trình năm 2026 là 35.000 tỷ đồng, bao gồm 25.000 tỷ đồng vốn đầu tư công và 10.000 tỷ đồng kinh phí thường xuyên. Đến ngày 30/9, Thủ tướng Chính phủ đã giao 22.176,186 tỷ đồng. Dù vậy, việc phân bổ vốn tại nhiều Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương vẫn chưa hoàn tất.

Do chậm phân bổ, lũy kế đến hết ngày 30/9, vốn đầu tư công thuộc các chương trình mới giải ngân 1.488,48 tỷ đồng, đạt 6,9% kế hoạch, trong đó, riêng nguồn ngân sách trung ương đạt 419,51 tỷ đồng (2,7%). Kinh phí thường xuyên mới giải ngân 217,17 tỷ đồng, đạt 2,9% dự toán. Nguyên nhân chính là các Bộ chủ chương trình chậm đề xuất phương án phân bổ, dẫn đến việc giao dự toán phải chia làm nhiều đợt, rút ngắn thời gian thực hiện.

Bên cạnh nguồn vốn mới, phần vốn năm 2025 được phép kéo dài sang năm 2026 cũng tạo áp lực rất lớn. Đến ngày 30/9, số vốn ngân sách trung ương đã làm thủ tục kéo dài là 19.491,46 tỷ đồng. Với vốn đầu tư công kéo dài, lũy kế giải ngân đạt 6.025,99 tỷ đồng, bằng 49,1% kế hoạch. Sự chênh lệch giữa các địa phương khá rõ rệt: Điện Biên đạt khoảng 79,8%, Sơn La đạt 72,9%, Gia Lai đạt 65,2%, nhưng vẫn còn 19 địa phương thấp hơn mức bình quân chung.

Đối với kinh phí thường xuyên kéo dài, tổng giải ngân hết tháng 9 mới đạt 4.216,12 tỷ đồng, bằng 31,6% dự toán. Trong đó, Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt 34%, Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt 22%, Chương trình giảm nghèo bền vững đạt 30%. Hiện có 13 Bộ, cơ quan Trung ương và 18 địa phương giải ngân nguồn vốn kéo dài này dưới mức bình quân chung. Tại Quảng Trị, tổng vốn năm 2025 kéo dài mới giải ngân được 30,9%. Tại Lai Châu, tính đến ngày 15/10, toàn tỉnh mới giải ngân 17,026 tỷ đồng vốn Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Đến cuối tháng 9, mới có 2 Bộ và 16 địa phương phân bổ 5.691,8 tỷ đồng vốn đầu tư công; 11 Bộ, cơ quan Trung ương và 14 địa phương phân bổ 3.364,35 tỷ đồng kinh phí thường xuyên. Hiện vẫn còn 11 tỉnh, thành phố chưa phân bổ vốn do chưa kịp ban hành quy định thuộc thẩm quyền.

Nhận diện, tháo gỡ điểm nghẽn

Bộ Tài chính xác định tiến độ bị ngưng trệ xuất phát từ việc một số địa phương chưa kịp thời rà soát, điều chỉnh các dự toán gắn với nhiệm vụ đã hết hoặc cần điều chỉnh để chuyển sang nội dung ưu tiên năm 2026. Bên cạnh đó là các vướng mắc về xác định đối tượng thụ hưởng, biến động giá nguyên vật liệu, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, xác định giá đền bù, nguồn gốc đất và công tác giải phóng mặt bằng chưa dứt điểm. Yếu tố thời tiết bất lợi như mưa lớn kéo dài diện rộng cũng làm gián đoạn vận chuyển vật liệu, thi công và các hoạt động phát triển sản xuất.

Để khắc phục tình trạng này, Bộ Tài chính kiến nghị các Bộ, ngành và địa phương rà soát toàn bộ số vốn kéo dài theo từng dự án, xác định rõ phần tiếp tục thực hiện, phần điều chỉnh hoặc không còn nhiệm vụ chi để tập trung nguồn lực. Các địa phương chưa phân bổ vốn phải khẩn trương hoàn tất quy định hoặc báo cáo rõ nguyên nhân, trách nhiệm và cam kết thời hạn. Đối với vướng mắc mặt bằng, cần hoàn thành xác định đối tượng, giá đền bù và giải phóng mặt bằng; báo cáo cấp thẩm quyền xử lý các vấn đề vượt thẩm quyền gắn với trách nhiệm từng đơn vị.

Các địa phương cũng cần xây dựng phương án thi công linh hoạt, dự phòng vật tư, nhân lực ứng phó mưa bão và tăng cường kiểm tra nơi giải ngân chậm để xử lý việc triển khai dàn trải, kém hiệu quả. Bộ Tài chính đề nghị xem xét trách nhiệm người đứng đầu nếu xảy ra chậm trễ do nguyên nhân chủ quan, đồng thời gắn kết quả thực hiện chương trình với đánh giá hoàn thành nhiệm vụ, thi đua khen thưởng cuối năm. Việc xử lý các phần việc phải được xác định rõ vướng ở đâu, cơ quan nào chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thành ngay trong quý cuối năm.

Hợp nhất quản lý, đổi mới phương thức thực hiện

Giai đoạn 2026-2030, các Chương trình mục tiêu quốc gia được tổ chức theo hướng hợp nhất với tổng nguồn lực dự kiến 808.558 tỷ đồng. Ngày 24/8/2026, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16 về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi. Chương trình được hợp nhất từ 4 chương trình trước đây, bao quát các lĩnh vực xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội.

Nguyên tắc hợp nhất khẳng định việc tổ chức chương trình mới không làm thay đổi, thu hẹp mục tiêu, phạm vi, đối tượng thụ hưởng, quyền lợi và mức độ ưu tiên đã xác định, đồng thời không làm gián đoạn nhiệm vụ. Bộ trưởng Bộ Tài chính khẳng định: Việc hợp nhất không có nghĩa là bắt đầu lại chính sách từ đầu mà nhằm thống nhất khuôn khổ quản lý, giảm trùng lặp, phân định rõ trách nhiệm và chuyển từ quản lý đầu vào sang đánh giá bằng sản phẩm, kết quả thực hiện. Tuy tỷ lệ giải ngân rất quan trọng nhưng không thể thay thế việc đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu và những cải thiện thực tế đối với đời sống người dân.

Tại Hội nghị triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc miền núi giai đoạn 2026-2035 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường đôn đốc, kiểm tra và hoàn thiện cơ sở dữ liệu dùng chung. Các Bộ quản lý ngành khẩn trương cụ thể hóa mục tiêu, tiêu chí và hướng dẫn chuyên môn. Các địa phương phải chủ động xây dựng kế hoạch 5 năm và hằng năm, phân công phù hợp năng lực cấp xã, lồng ghép nguồn lực hợp pháp. Thủ tướng yêu cầu người đứng đầu trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm về kết quả; việc thuộc thẩm quyền cấp nào thì cấp đó chủ động giải quyết, tuyệt đối không chờ đợi hay đùn đẩy trách nhiệm.

Việc kịp thời tháo gỡ điểm nghẽn của năm 2026 không chỉ là nhiệm vụ cấp bách trong quý cuối năm, mà còn là bước chuẩn bị căn cơ để toàn bộ Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030 vận hành đồng bộ từ năm 2027. Chỉ khi các Bộ, ngành và địa phương chủ động nhập cuộc với tinh thần trách nhiệm cao nhất, nguồn lực hơn 808.000 tỷ đồng mới thực sự trở thành động lực phát triển mạnh mẽ cho các vùng miền trên cả nước./.

MINH ANH

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-cap-bach-giai-ngan-tien-toi-van-hanh-dong-bo