Chương trình mục tiêu quốc gia: Đổi cách phân bổ nguồn lực, tăng quyền cho cấp xã
Với tổng nguồn lực 808.558 tỷ đồng trong giai đoạn 2026–2030, Chương trình mục tiêu quốc gia mới không chỉ thay đổi cách tổ chức thực hiện mà còn chuyển trọng tâm đánh giá từ giải ngân sang hiệu quả thực chất. Đáng chú ý, cấp xã và cộng đồng dân cư được trao thêm quyền chủ động, trong khi hợp tác xã được xác định là một trong những nguồn lực tham gia phát triển kinh tế nông thôn.
Sáng 15/10, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương, chủ trì Hội nghị triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc miền núi giai đoạn 2026–2035. Hội nghị được kết nối trực tuyến từ trụ sở Chính phủ tới các tỉnh, thành phố.
Chương trình được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026, trên cơ sở hợp nhất bốn chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; phát triển văn hóa; hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.
Ngày 12/10, Chính phủ ban hành nghị định quy định cụ thể nội dung, cơ chế và chính sách thực hiện Chương trình. Thủ tướng đồng thời ký Quyết định số 1966/QĐ-TTg kiện toàn Ban Chỉ đạo Trung ương.
Theo kế hoạch, tổng vốn thực hiện giai đoạn 2026–2030 là 808.558 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách trung ương bố trí 345.000 tỷ đồng, gồm 244.200 tỷ đồng vốn đầu tư công và 100.800 tỷ đồng kinh phí thường xuyên.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn báo cáo tại Hội nghị - Ảnh:VGP
808.558 tỷ đồng được đánh giá bằng kết quả gì?
Điểm thay đổi đáng chú ý của Chương trình là cách quản lý và đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Thay vì chỉ tập trung vào tiến độ phân bổ, giải ngân vốn, kết quả thực hiện được đánh giá trên thang 100 điểm, trong đó việc hoàn thành các mục tiêu chuyên ngành chiếm 60 điểm, tiến độ phân bổ và giải ngân chiếm 30 điểm, mức độ hài lòng của người dân chiếm 10 điểm.
Như vậy, tỷ lệ giải ngân vẫn là một tiêu chí quan trọng nhưng không còn là căn cứ duy nhất để đánh giá hiệu quả thực hiện. Các mục tiêu đạt được và đánh giá của người dân cũng được đưa vào hệ thống chấm điểm.
Việc đánh giá được thực hiện định kỳ 6 tháng, hằng năm, giữa kỳ và cuối kỳ. Kết quả được sử dụng để cảnh báo, xác định trách nhiệm và điều hành phân bổ ngân sách cho năm tiếp theo.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, việc hợp nhất bốn chương trình mục tiêu quốc gia không có nghĩa là làm lại từ đầu, mà nhằm tổ chức lại phương thức quản lý, giảm trùng lặp, giảm tầng nấc trung gian và phân định rõ trách nhiệm.
“Điều cốt lõi là tổ chức lại cách quản lý, điều hành và thực hiện nhằm giảm trùng lặp, giảm tầng nấc trung gian, phân định rõ trách nhiệm, tăng quyền chủ động cho địa phương, chuyển mạnh từ quản lý đầu vào sang quản lý theo mục tiêu, các sản phẩm và kết quả đầu ra”, Bộ trưởng nêu rõ.
Tinh thần triển khai được Bộ trưởng Bộ Tài chính khái quát bằng nguyên tắc “3 KHÔNG”: không chờ đợi khi đã rõ thẩm quyền và cơ chế; không đẩy trách nhiệm, việc thuộc cấp nào phải được xử lý ở cấp đó; không đánh giá Chương trình chỉ bằng số vốn đã giải ngân mà phải căn cứ vào kết quả thực chất đối với người dân.
Yêu cầu này được đặt ra trong bối cảnh tiến độ giải ngân vốn chuyển tiếp còn chậm. Theo thông tin Thủ tướng nêu tại hội nghị, tỷ lệ thực hiện và giải ngân nguồn vốn ngân sách trung ương của các chương trình giai đoạn 2021–2025 chuyển sang năm 2026 mới đạt khoảng 39%, tương ứng còn khoảng 12.000 tỷ đồng chưa giải ngân.
Để khắc phục tình trạng này, Thủ tướng yêu cầu tập trung nguồn lực vào các nhiệm vụ thiết yếu, tác động trực tiếp đến đời sống người dân như nước sinh hoạt, đất ở, đất sản xuất và bảo đảm sinh kế; ưu tiên địa bàn khó khăn, đối tượng yếu thế, tránh đầu tư dàn trải, trùng lặp và lãng phí.

Cơ chế hỗ trợ đầu tư được thiết kế theo hướng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cơ sở.
Cùng với đổi mới cách đánh giá, cơ chế phân bổ và sử dụng nguồn lực được điều chỉnh theo hướng tăng quyền chủ động cho địa phương và cộng đồng dân cư.
Đối với các dự án quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản trên địa bàn một xã, UBND cấp xã được giao quản lý theo thủ tục đơn giản hóa.
Tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, địa bàn đặc biệt khó khăn, ngân sách nhà nước có thể hỗ trợ tối đa 100% tổng mức đầu tư theo quy định.
Đáng chú ý, những dự án có tổng mức đầu tư dưới 500 triệu đồng có thể giao cộng đồng tự thực hiện thông qua Ban phát triển thôn. Đây là cơ chế nhằm đưa việc tổ chức thực hiện các công trình, dự án nhỏ đến gần hơn với người dân tại địa bàn thụ hưởng.
Trong hỗ trợ phát triển sản xuất, Chương trình cho phép triển khai linh hoạt theo chuỗi giá trị, theo cộng đồng, theo nhiệm vụ và theo cơ chế đặc thù. Riêng hình thức hỗ trợ theo nhiệm vụ phải dành tối thiểu 70% kinh phí để hỗ trợ trực tiếp cho người dân.
Các quy định này tạo điều kiện để cộng đồng tham gia từ khâu đề xuất nhu cầu, tổ chức thực hiện đến giám sát kết quả. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia giám sát và khảo sát mức độ hài lòng của người dân.
Điểm đáng chú ý là sự thay đổi không chỉ nằm ở việc cấp nào quản lý dự án, mà còn ở cách xác định nhu cầu đầu tư. Khi cấp xã và cộng đồng có thêm quyền chủ động, những công trình, hoạt động hỗ trợ sản xuất quy mô nhỏ có điều kiện được lựa chọn sát hơn với nhu cầu thực tế.
Tuy nhiên, việc phân cấp cũng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, quản lý tài chính và giám sát tại cơ sở để bảo đảm nguồn lực được sử dụng đúng mục tiêu.
Hợp tác xã tham gia huy động nguồn lực và phát triển chuỗi giá trị
Một nội dung đáng chú ý đối với khu vực kinh tế tập thể là vai trò của hợp tác xã trong cơ chế triển khai Chương trình.
Theo báo cáo của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng tại hội nghị, thành phần Ban Chỉ đạo Trung ương có đại diện lãnh đạo Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, bên cạnh đại diện các bộ, ngành, cơ quan Trung ương và các tổ chức chính trị - xã hội.
Sự tham gia này tạo thêm kênh phối hợp để những vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế tập thể, liên kết sản xuất và nhu cầu của hợp tác xã được phản ánh trong quá trình tổ chức thực hiện Chương trình.
Ở góc độ nguồn lực, cơ chế mới không chỉ dựa vào ngân sách nhà nước mà còn mở rộng huy động tín dụng chính sách, tín dụng thương mại và nguồn lực hợp pháp từ doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư.
Theo đó, ngân sách nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, tập trung cho các địa bàn, đối tượng ưu tiên; đồng thời khuyến khích huy động thêm nguồn lực xã hội để thực hiện các mục tiêu phát triển.
Thủ tướng yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố chủ động bố trí vốn đối ứng, lồng ghép hiệu quả các nguồn lực hợp pháp, phát huy vai trò của doanh nghiệp, hợp tác xã và cộng đồng trong quá trình triển khai.
Đối với các hợp tác xã ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị và theo cộng đồng tiếp tục là một nội dung quan trọng.
Điều này có ý nghĩa thực tế khi nhiều hợp tác xã đang đảm nhận vai trò tổ chức sản xuất, liên kết hộ thành viên, cung ứng dịch vụ đầu vào và kết nối tiêu thụ nông sản. Các hoạt động hỗ trợ sản xuất nếu được thiết kế phù hợp có thể góp phần củng cố liên kết giữa hợp tác xã, người dân và doanh nghiệp.
Đặc biệt, khi quyền lựa chọn danh mục và thứ tự ưu tiên được tăng cường cho địa phương, các hợp tác xã có thêm cơ hội phản ánh nhu cầu về tổ chức sản xuất, liên kết chuỗi giá trị và phát triển sinh kế thông qua cơ chế đề xuất, phối hợp tại cơ sở.
Tuy nhiên, việc hợp tác xã được xác định là một nguồn lực tham gia Chương trình không đồng nghĩa mọi hợp tác xã đều mặc nhiên được cấp vốn hỗ trợ. Khả năng tiếp cận các chính sách cụ thể vẫn phụ thuộc vào đối tượng, địa bàn, nội dung hỗ trợ và cơ chế thực hiện theo quy định.
Vì vậy, để tận dụng cơ hội từ Chương trình, hợp tác xã cần chủ động làm việc với chính quyền địa phương, xác định nhu cầu hỗ trợ sát thực tế và nâng cao năng lực xây dựng, triển khai các phương án sản xuất, liên kết chuỗi giá trị.
Không để chính sách gián đoạn khi hợp nhất chương trình
Bên cạnh yêu cầu đổi mới quản lý, Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh tính liên tục trong quá trình chuyển tiếp.
“Yêu cầu đặt ra là phải tổ chức thực hiện thống nhất, liên tục; không để việc chuyển sang Chương trình mới làm gián đoạn chính sách, nhiệm vụ và quyền lợi hợp pháp của người dân”, Thủ tướng phát biểu.
Theo nguyên tắc chuyển tiếp, những nhiệm vụ, dự án, hợp đồng và đối tượng thụ hưởng đã được phê duyệt trong năm 2026 trước khi nghị định mới có hiệu lực tiếp tục được thực hiện theo cơ chế cũ cho đến khi hoàn thành.
Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn thiện, trình ban hành quy chế hoạt động, phân công nhiệm vụ và chương trình công tác năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương trước ngày 20/10.
Các tỉnh, thành phố phải kiện toàn Ban Chỉ đạo cấp tỉnh trước ngày 25/10. Các bộ quản lý ngành hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn, tiêu chí, định mức kinh tế - kỹ thuật và hướng dẫn chuyên môn chậm nhất trong tháng 10/2026.
Với nguồn lực hơn 808.000 tỷ đồng trong 5 năm đầu, thách thức lớn nhất không chỉ là đưa vốn đến đúng địa chỉ, mà còn là bảo đảm nguồn vốn tạo ra những thay đổi có thể đo lường trong đời sống người dân.
Việc bổ sung mức độ hài lòng của người dân vào hệ thống đánh giá, tăng quyền chủ động cho cấp xã và mở rộng sự tham gia của hợp tác xã cho thấy hướng chuyển từ quản lý nguồn vốn sang quản lý kết quả. Hiệu quả của cách tiếp cận này sẽ phụ thuộc vào năng lực triển khai tại cơ sở, chất lượng giám sát và khả năng chuyển các cơ chế mới thành lợi ích cụ thể cho người dân.
