Chuyển đổi kép ‘xanh - số’: Từ sức ép tuân thủ đến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Việt
Chuyển đổi kép xanh - số giúp doanh nghiệp Việt biến sức ép tuân thủ thành động lực đổi mới, tối ưu chi phí và nâng cao lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Khi “xanh” và “số” trở thành một luật chơi chung
Trong bức tranh thương mại quốc tế thế hệ mới, cấu trúc cạnh tranh truyền thống - vốn xoay quanh giá cả, chất lượng và tốc độ giao hàng - đang được tái định hình. Phát thải carbon hàm chứa trong sản phẩm, tính minh bạch về nguồn gốc nguyên vật liệu, hiệu quả sử dụng tài nguyên và năng lực kiểm chứng bằng dữ liệu định lượng ngày càng trở thành những biến số kinh tế quan trọng. Trước yêu cầu đó, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số (có lẽ) không nên vận hành như hai lộ trình tách biệt, mà cần được tiếp cận như một tiến trình kép hữu cơ (Hình 1): công nghệ số cung cấp công cụ đo lường, truy xuất và tối ưu hóa vận hành, còn mục tiêu phát triển xanh định hướng các nỗ lực tối ưu hóa tới phát thải thấp hơn và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn.

Hình 1. Khung phân tích chuyển đổi kép xanh - số cho doanh nghiệp Việt Nam Nguồn: Tác giả tổng hợp và thiết kế hình ảnh với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo (ChatGPT).
OECD chỉ ra rằng chuyển đổi số có thể tác động tới quá trình chuyển dịch đến phát thải ròng bằng 0 thông qua nhiều kênh kinh tế khác nhau [1]. Các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy tính bổ trợ và củng cố lẫn nhau giữa số hóa và xanh hóa [2-3]. Mặt khác, theo Lý thuyết Cộng hưởng Giá trị (VRT) [4], giá trị của chuyển đổi kép không chỉ là tổng cơ học của hai cấu phần “xanh” và “số”, mà còn nằm ở phần giá trị mới phát sinh khi hai năng lực này tương tác và cộng hưởng: dữ liệu số giúp các mục tiêu xanh trở nên đo lường và kiểm chứng được, ngược lại mục tiêu xanh định hướng đầu tư công nghệ số vào những khâu có tiềm năng tạo hiệu quả lớn. Cộng hưởng này chỉ hình thành khi hai quá trình được tích hợp vào chiến lược phát triển dài hạn, hệ thống chỉ số đánh giá cốt lõi (KPI) và cấu trúc quản trị của doanh nghiệp.
CBAM và EUDR: hai phép thử đối với doanh nghiệp Việt Nam
Hiện nay sức ép từ các quy định thương mại xanh của Liên minh châu Âu (EU) đang chuyển từ giai đoạn chuẩn bị sang thực thi. Trước hết, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) đã bước vào giai đoạn chính thức từ ngày 1/1/2026, áp dụng đối với hàng hóa thuộc sáu nhóm ngành: xi măng, sắt thép, nhôm, phân bón, điện và hydrogen. Nhà nhập khẩu EU thuộc phạm vi điều chỉnh phải khai báo phát thải hàm chứa và thực hiện nghĩa vụ về chứng chỉ CBAM theo quy định [5]. CBAM được thiết kế nhằm đưa giá carbon của hàng nhập khẩu tiệm cận giá carbon áp dụng đối với sản xuất trong EU và hạn chế nguy cơ “rò rỉ carbon”, chứ không đơn thuần là một sắc thuế biên giới. Trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp, Quy định chống mất rừng của EU (EUDR) đặt ra các yêu cầu thẩm định và truy xuất nghiêm ngặt. Quy định này bao phủ bảy nhóm hàng hóa chính—gia súc, cacao, cà phê, dầu cọ, cao su, đậu tương và gỗ—cùng các sản phẩm liên quan; hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh phải không liên quan đến mất rừng, riêng gỗ còn gắn với yêu cầu không gây suy thoái rừng, đồng thời phải tuân thủ pháp luật liên quan của quốc gia sản xuất. Theo lịch hiện hành, EUDR áp dụng từ ngày 30/12/2026 đối với doanh nghiệp lớn và vừa, và từ ngày 30/6/2027 đối với phần lớn doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ [6].
Đối với EU—một thị trường xuất khẩu trọng yếu của Việt Nam với kim ngạch trên 56 tỷ USD trong năm 2025, tăng 8,6% so với năm trước [7]—CBAM và EUDR đang trở thành những phép thử trực tiếp đối với năng lực thích ứng của chuỗi cung ứng. Nghiên cứu của Do và cộng sự ghi nhận quy mô hàng xuất khẩu của Việt Nam thuộc các ngành liên quan CBAM ở khoảng 3 tỷ USD theo dữ liệu năm 2023; đồng thời ước tính mức thanh toán CBAM hằng năm đối với Việt Nam có thể vào khoảng 659 triệu USD trong kịch bản cơ chế được áp dụng đầy đủ, với phần lớn tác động tập trung ở sắt thép [8]. Với nông sản, riêng kim ngạch xuất khẩu cà phê sang EU năm 2025 đạt 3,63 tỷ USD, chiếm 40,7% tổng giá trị xuất khẩu cà phê của Việt Nam [9]. Nghiên cứu của Nguyen Van Toai và Bui Khanh Tung [10], được công bố trong khuôn khổ “Team Europe Initiative on Deforestation-free Value Chains”, cho thấy truy xuất nguồn gốc, bao gồm dữ liệu địa lý vùng nguyên liệu, là cấu phần thiết yếu để đáp ứng yêu cầu EUDR và qua đó hỗ trợ khả năng tiếp cận thị trường EU. Những dữ kiện này cho thấy cường độ phát thải và năng lực quản trị dữ liệu—từ dấu chân carbon đến tọa độ địa lý—không còn chỉ là vấn đề kỹ thuật phụ trợ, mà có thể ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực cạnh tranh và khả năng duy trì tiếp cận thị trường của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Khi chuyển đổi số trở thành hạ tầng của chuyển đổi xanh
Từ thực tiễn triển khai CBAM và quá trình chuẩn bị tuân thủ EUDR, một nguyên lý ngày càng rõ: doanh nghiệp không chỉ cần “xanh hóa” quy trình mà còn phải có khả năng chứng minh mức độ xanh bằng dữ liệu đáng tin cậy. Doanh nghiệp khó quản lý và cắt giảm hiệu quả những gì không đo lường được; tương tự, truy xuất nguồn gốc sẽ khó có hệ thống nếu dữ liệu chưa được số hóa và chuẩn hóa. Trong cấu trúc này, các công nghệ như ERP, IoT, hệ thống thông tin địa lý (GIS), nền tảng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI) có thể hỗ trợ kết nối dữ liệu chuỗi cung ứng, theo dõi tiêu hao tài nguyên, định vị vùng nguyên liệu và tối ưu hóa vận hành và logistics. Tuy nhiên, chuyển đổi số không tự động dẫn tới chuyển đổi xanh. OECD lưu ý rằng, bên cạnh khả năng cải thiện hiệu quả năng lượng, hạ tầng tính toán tiêu tốn năng lượng và “hiệu ứng dội lại” (rebound effect) có thể làm gia tăng tổng nhu cầu năng lượng [1]. Vì vậy, giá trị của công nghệ cần được đánh giá bằng khả năng cải thiện hiệu quả đầu vào, giảm phát thải và tối ưu hóa chi phí vận hành.

TS. Khúc Văn Quý
Vận dụng Lý thuyết Cộng hưởng Giá trị (VRT) [4] vào bối cảnh này, cộng hưởng có thể được hiểu là quá trình trong đó dữ liệu số làm thay đổi chất lượng của các quyết định xanh, còn mục tiêu xanh tiếp tục định hướng cấu trúc và mục đích sử dụng của hệ thống số. Nếu dữ liệu thu thập được không đi vào phân bổ vốn đầu tư, lựa chọn và quản trị nhà cung ứng, cũng như hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả (KPI), hai quá trình số hóa và xanh hóa có nguy cơ chỉ vận hành song song thay vì thực sự tạo ra năng lực chuyển đổi kép.
Điểm nghẽn của doanh nghiệp
Doanh nghiệp Việt Nam không bắt đầu chuyển đổi kép từ con số không. EVFTA đã tạo nền tảng hội nhập sâu hơn với thị trường EU; thực tiễn thị trường cũng cho thấy một bộ phận doanh nghiệp đã đầu tư đổi mới công nghệ, xây dựng vùng nguyên liệu, tăng cường truy xuất nguồn gốc và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế [7]. Tuy nhiên, nhiều điểm nghẽn vẫn hiện hữu: dữ liệu phân mảnh, các phòng ban vận hành theo những “ốc đảo thông tin” (silos), thiếu nhân lực kết hợp kỹ năng số - xanh, trong khi mạng lưới nhà cung ứng nhỏ và phân tán làm tăng chi phí truy xuất. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), OECD xác định các rào cản phổ biến gồm chi phí cao của hành động khí hậu, sự phức tạp về hành chính và hạn chế về năng lực chuyên môn [11]. Vì vậy, hỗ trợ chính sách cần kết hợp đào tạo, đo lường phát thải, hỗ trợ tuân thủ và các công cụ đầu tư phù hợp thay vì triển khai từng biện pháp rời rạc.
Nhìn dưới lăng kính Tháp văn hóa (CT), những điểm nghẽn này có thể được diễn giải như sự đứt gãy trong quá trình chuyển hóa K-A-U-C: từ Tri thức (Knowledge - K), Hành động (Action - A), Thụ hưởng giá trị (Utility - U), đến Đóng góp/Sáng tạo (Contribution/Creativity - C) [12]. Trong bối cảnh chuyển đổi kép, K thể hiện mức độ hiểu quy định và làm chủ dữ liệu; A là thay đổi quy trình và đầu tư công nghệ; U là khả năng chuyển các cải tiến thành giá trị kinh tế cụ thể, chẳng hạn giảm chi phí, nâng hiệu quả hoặc duy trì thị trường; còn C là năng lực đổi mới sản phẩm, công nghệ và mô hình kinh doanh. Nếu doanh nghiệp đi từ K tới A nhưng chưa nhìn thấy U, động lực đầu tư có thể suy yếu và khả năng tiến tới C khó duy trì trong dài hạn.
Sáu bước hành động và kiến tạo hạ tầng dùng chung
Để chuyển từ thế bị động tuân thủ sang chủ động tạo lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp cần một lộ trình thực hành nhất quán, có thể cô đọng thành sáu bước: Đo lường – Truy xuất – Giảm thiểu – Xác minh – Công bố – Cạnh tranh. Cụ thể: (1) Đo lường để xác lập đường cơ sở (baseline) về cường độ năng lượng, mức tiêu hao nguyên vật liệu và phát thải khí nhà kính; (2) Truy xuất để nhận diện nguồn gốc vùng nguyên liệu, nhà cung ứng và dữ liệu của từng lô hàng; (3) Giảm thiểu bằng cách ưu tiên các “điểm nóng” phát thải có tiềm năng giảm chi phí hoặc phát thải lớn nhất; (4) Xác minh dựa trên hồ sơ, phương pháp luận và, khi cần, kiểm chứng độc lập; (5) Công bố dữ liệu theo hướng minh bạch, chuẩn hóa và nhất quán cho khách hàng, nhà đầu tư và cơ quan quản lý; (6) Cạnh tranh bằng cách sử dụng chính năng lực dữ liệu xanh - số để tối ưu chi phí, rút ngắn thời gian phản hồi và tiếp cận các phân khúc thị trường có giá trị cao hơn. Theo Tháp văn hóa (CT), sáu bước này phản ánh quá trình chuyển từ Tri thức (K) sang Hành động (A), từ Hành động tạo ra Giá trị thụ hưởng (U), và từ Giá trị mở ra không gian cho Đóng góp/Sáng tạo (C).
Một tín hiệu thực tiễn đáng chú ý đến từ ngành cao su Việt Nam. Tính đến tháng 6/2026, khoảng 305.000 ha, tương đương 81% diện tích cao su do Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) quản lý, được báo cáo là đã cơ bản đáp ứng các yêu cầu EUDR; theo tính toán sơ bộ của VRG được Báo Công Thương dẫn lại, việc đáp ứng EUDR giúp giá bán cao su tăng thêm khoảng 150 – 250 USD/tấn [13]. Mức chênh lệch giá này không đồng nghĩa trực tiếp với mức tăng lợi nhuận tương ứng vì còn phụ thuộc vào chi phí tuân thủ, nhưng cho thấy trong những điều kiện nhất định, năng lực tuân thủ có thể tạo ra “phần bù giá thị trường” (green premium), góp phần bù đắp chi phí chuyển đổi và gia tăng giá trị sản phẩm.
Doanh nghiệp là chủ thể thực thi nhưng không thể tự giải quyết toàn bộ bài toán chuyển đổi kép. Việt Nam cần chuyển từ các biện pháp hỗ trợ rời rạc sang xây dựng một “hạ tầng cạnh tranh xanh - số” ở cấp quốc gia, gồm: chuẩn dữ liệu liên thông; hướng dẫn đo lường, báo cáo và kiểm chứng (MRV) khí nhà kính; nền tảng truy xuất nguồn gốc số dùng chung; mạng lưới dịch vụ tư vấn kỹ thuật có chất lượng; và các công cụ tài chính xanh phù hợp. Trong hệ sinh thái này, Nhà nước kiến tạo thể chế và hạ tầng nền tảng; hiệp hội ngành hàng chuyển hóa tiêu chuẩn quốc tế thành hướng dẫn thực hành cho doanh nghiệp; ngân hàng có thể gắn điều kiện tín dụng xanh với chất lượng dữ liệu và hiệu quả môi trường; doanh nghiệp đầu chuỗi dẫn dắt chuẩn hóa nhà cung ứng; còn tổ chức chứng nhận và doanh nghiệp công nghệ cung cấp các giải pháp dùng chung để giảm chi phí tuân thủ. UNDP cũng nhấn mạnh rằng chuyển đổi xanh của Việt Nam không chỉ là câu chuyện môi trường mà còn là câu chuyện về năng lực cạnh tranh [14].
Nhìn tổng thể, hệ sinh thái này cần vận hành theo hai trục bổ trợ. Theo chiều dọc, CT cung cấp một cách nhìn về quá trình tích lũy năng lực doanh nghiệp từ Tri thức (K) tới Hành động (A), Giá trị thụ hưởng (U) và Đóng góp/Sáng tạo (C); theo chiều ngang, vận dụng VRT cho thấy giá trị có thể được khuếch đại khi doanh nghiệp, định chế tài chính, tổ chức kiểm định, hiệp hội, nhà cung cấp công nghệ và cơ quan quản lý phối hợp trên những mục tiêu và dữ liệu tương thích [4]. Khi hai trục kết nối, một khoản đầu tư vào hệ thống dữ liệu số có thể đồng thời hỗ trợ quản trị chi phí, đáp ứng nghĩa vụ CBAM, chuẩn bị tuân thủ EUDR, cải thiện năng lực báo cáo ESG, tạo cơ sở tiếp cận tín dụng xanh và đáp ứng yêu cầu của đối tác quốc tế. “Hạ tầng cạnh tranh xanh - số” vì thế có thể trở thành nền tảng để biến dữ liệu thành năng lực tuân thủ, năng suất và khả năng tiếp cận thị trường.
Kết luận
CBAM và EUDR là những biểu hiện rõ của xu hướng thương mại ngày càng coi trọng phát thải carbon, tính minh bạch của chuỗi cung ứng và dữ liệu có thể kiểm chứng. Trong bối cảnh đó, phản ứng hiệu quả của doanh nghiệp Việt Nam không nên dừng ở việc chạy theo từng quy định riêng lẻ, mà cần hướng tới xây dựng năng lực chuyển đổi kép có thể tái sử dụng cho nhiều thị trường và chuẩn mực khác nhau. Trong bối cảnh này, chuyển đổi xanh xác định mục tiêu và hướng đi; chuyển đổi số tạo năng lực đo lường, truy xuất và tối ưu hóa nguồn lực; CT giúp diễn giải quá trình tích lũy năng lực từ Tri thức (K), Hành động (A), Giá trị thụ hưởng (U) đến Đóng góp/Sáng tạo (C); còn VRT giúp thiết kế và lý giải phần giá trị gia tăng có thể phát sinh từ sự cộng hưởng giữa các tác nhân trong hệ sinh thái. Tựu trung, trong luật chơi mới, ‘Xanh’ định hướng doanh nghiệp đi về đâu, ‘Số’ tạo khả năng nhìn thấy và chứng minh lộ trình ấy, còn ‘Quản trị chiến lược’ quyết định mức độ hai tiến trình này có thể kết tinh thành lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Khúc Văn Quý
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Calvino, F., Dechezleprêtre, A., & Haerle, D. (2025). How can the digital transformation affect the net-zero transition? A conceptual framework for the “twin” transition. OECD Science, Technology and Industry Working Papers, No. 2025/17. https://doi.org/10.1787/4ee71f6d-en
[2] Wen, Q., Dai, Z., Guo, L., Hong, J., & Chen, L. (2026). The “twin transition” towards sustainability: Synergistic impact of information infrastructure on firms’ digital and green transformations. Global Environmental Change, 99, 103198. https://doi.org/10.1016/j.gloenvcha.2026.103198
[3] Tabares, S., Parida, V., & Chirumalla, K. (2025). Twin transition in industrial organizations: Conceptualization, implementation framework, and research agenda. Technological Forecasting and Social Change, 213, 123995. https://doi.org/10.1016/j.techfore.2025.123995
[4] Khuc, V. Q. (2026). Value Resonance Theory. SSRN. https://doi.org/10.2139/ssrn.6938900
[5] European Commission. (2026). CBAM definitive regime. https://taxation-customs.ec.europa.eu/carbon-border-adjustment-mechanism/cbam-definitive-regime_en
[6] European Commission. (2026). Regulation on Deforestation-free Products. https://environment.ec.europa.eu/topics/forests/deforestation/regulation-deforestation-free-products_en
[7] Bảo Ngọc. (2026, 15/7). EVFTA “tiếp sức” hàng Việt vượt tiêu chuẩn xanh, mở rộng thị phần tại EU. Bộ Công Thương. https://moit.gov.vn/tin-tuc/evfta-tiep-suc-hang-viet-vuot-tieu-chuan-xanh-mo-rong-thi-phan-tai-eu.html
[8] Do, T. N., Prasad, M., Swandaru, A., Burke, P. J., Chu, L., & Le, L. (2026). Reforming the European Union’s Carbon Border Adjustment Mechanism: Stakeholder perspectives from India, Indonesia, and Vietnam. Energy Nexus, 22, 100724. https://doi.org/10.1016/j.nexus.2026.100724
[9] Bộ Công Thương. (2026, 21/1). Bản tin Thị trường nông, lâm, thủy sản. https://moit.gov.vn/upload/2005517/fck/files/Ban_tin_Thi_truong_NLTS_so_ra_ngay_21_01_2026.pdf
[10] Nguyen, V. T., & Bui, K. T. (2025). Study on Traceability Tools for Coffee and Timber Products in Viet Nam: With a special focus on access and application by smallholders and businesses. Team Europe Initiative on Deforestation-free Value Chains. https://zerodeforestationhub.eu/eudr-study-on-traceability-tools-for-coffee-and-timber-products-in-viet-nam/
[11] OECD. (2026). Benchmarking SME decarbonisation policies. OECD SME and Entrepreneurship Papers, No. 79. https://doi.org/10.1787/6736b4f3-en
[12] Khuc, V. Q. (2021). Culture Tower. SSRN. https://doi.org/10.2139/ssrn.4559667
[13] Nguyễn Hạnh. (2026, 29/6). Ngành cao su tăng tốc đáp ứng EUDR trước thời hạn 1/1/2027. Báo Công Thương. https://congthuong.vn/nganh-cao-su-tang-toc-dap-ung-eudr-truoc-thoi-han-1-1-2027-463273.html
[14] Khalidi, R. (2026, 16/3). Green Transition and Strategies to Strengthen Viet Nam’s Position in the Global Economy. UNDP Viet Nam. https://www.undp.org/vietnam/blog/green-transition-and-strategies-strengthen-viet-nams-position-global-economy


