Chuyển đổi số HTX: Cần nền tảng dữ liệu và cơ chế hỗ trợ đủ lực
Yêu cầu số hóa, truy xuất nguồn gốc và minh bạch dữ liệu ngày càng cao, nhưng nhiều HTX vẫn loay hoay với năng lực quản trị, nhân lực và nguồn lực tài chính. Bài toán đặt ra không chỉ là đưa công nghệ vào HTX, mà còn phải chuẩn hóa dữ liệu và hoàn thiện cơ chế hỗ trợ để các giải pháp số thực sự đi vào vận hành.
Tính đến hết năm 2025, cả nước có khoảng 36.270 HTX với gần 7,1 triệu thành viên, đóng góp khoảng 4,8% GDP. Trong đó, khối HTX nông nghiệp chiếm áp đảo với 23.954 đơn vị, tương đương 66% tổng số. Nằm ở vị trí trung tâm của nền sản xuất nông nghiệp, HTX vừa là lực lượng chịu tác động trực tiếp nhất từ các yêu cầu minh bạch hóa nguồn gốc xuất xứ, vừa là mắt xích hiệu quả nhất để đưa hàng triệu nông hộ nhỏ lẻ tích hợp vào hệ thống dữ liệu chung của toàn ngành. Tuy nhiên, hành trình số hóa của khu vực này đang vấp phải những khoảng trống lớn từ năng lực nội tại đến các quy định pháp lý.
Từ áp lực sinh tồn
Thực tế tại các địa phương cho thấy, muốn tạo dựng vùng nguyên liệu quy mô lớn để cung ứng cho doanh nghiệp chế biến hay xuất khẩu, việc liên kết và tổ chức lại nông dân thông qua mô hình HTX là đường hướng bắt buộc. Tuy nhiên, khi đi sâu vào vận hành, công tác quản trị và thực hành số hóa lại đang vấp phải những lực cản rất lớn.
Chia sẻ tại Diễn đàn “Chuyển đổi số trong Hợp tác xã: Từ dữ liệu, quản trị đến thị trường”, ông Bùi Khánh Dũng, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần MUSA PACTA, cho rằng trong giai đoạn hiện nay, chuyển đổi số đã trở thành áp lực bủa vây lên HTX chứ không còn dừng ở động lực như trước, bởi sự thắt chặt của hàng loạt quy định quản lý, đặc biệt là các chính sách về thuế. Trong khi yêu cầu pháp lý và công tác tài chính ngày càng chặt chẽ, việc ghi chép nhật ký sản xuất, quản lý thành viên và theo dõi vật tư đầu vào tại phần lớn HTX vẫn phụ thuộc chủ yếu vào sổ sách giấy. Phương thức thủ công này không chỉ thiếu chính xác, khó kiểm tra chéo, tốn thời gian mà còn vô hiệu hóa khả năng chứng minh chất lượng sản phẩm.

Ông Đào Ngọc Tuất, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Ông Nguyễn Hoàng Linh, Giám đốc HTX nghiên cứu ứng dụng và phát triển Nông nghiệp thông minh, cho biết nhiều HTX nông nghiệp đang đối mặt với tình trạng già hóa dân số nghiêm trọng. Đội ngũ quản lý lẫn thành viên hầu như không có kỹ năng công nghệ, rất ngại nhập liệu và phải phụ thuộc hoàn toàn vào các đơn vị tư vấn bên ngoài để làm hồ sơ. Khảo sát của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, chỉ khoảng 35% HTX bắt đầu ứng dụng mã QR để truy xuất nguồn gốc. Năng lực cung cấp dữ liệu thực tế của HTX còn khoảng cách rất xa so với các thông tin đã đăng ký trên hệ thống.
Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Đào Ngọc Tuất, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nhấn mạnh thị trường quốc tế đang chuyển dịch rất nhanh từ kiểm tra sản phẩm cuối cùng sang kiểm soát luồng dữ liệu toàn chuỗi. Sự chuyển dịch này được thể hiện rõ qua các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe từ các thị trường nhập khẩu lớn.

ông Đỗ Mạnh Khởi, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể - Bộ Tài chính.
Điển hình như mặt hàng sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc theo Nghị định thư năm 2022 yêu cầu toàn bộ mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói phải được cấp, quản lý chặt chẽ. Hay đối với thị trường Liên minh châu Âu (EU), Quy định chống phá rừng (EUDR) sau khi sửa đổi sẽ chính thức áp dụng từ ngày 30/12/2026 đối với doanh nghiệp lớn, vừa và từ ngày 30/6/2027 đối với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ. Khi quy định này có hiệu lực, các nông sản chủ lực như cà phê, cao su, gỗ bắt buộc phải có tọa độ định vị địa lý chính xác của từng thửa đất sản xuất. Theo ông Đào Ngọc Tuất, nếu không có dữ liệu chuẩn hóa, hàng hóa của HTX sẽ lập tức bị gạt ra khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trước những đòi hỏi khắt khe đó, ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam, mang đến một góc nhìn giải pháp cụ thể gắn với thực thi chính sách. Ông Nam dẫn giải Quyết định số 534/QĐ-TTg ngày 19/6/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Nâng cao hiệu quả thực thi Hiệp định về áp dụng các biện pháp vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động, thực vật (SPS)", trong đó có nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng dữ liệu về an toàn thực phẩm.

Ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam phát biểu tại diễn đàn.
Theo ông Ngô Xuân Nam, các quy định này sẽ kết nối trực tiếp đến doanh nghiệp và HTX để xây dựng cơ sở dữ liệu, sau đó được cập nhật, số hóa phục vụ tra cứu các thông tin mới nhất của thị trường. Hiện nay, Văn phòng SPS Việt Nam đang là đầu mối về các vấn đề truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, do đó rất mong nhận được sự phối hợp chặt chẽ của Liên minh HTX Việt Nam để tổ chức các hội thảo, khóa đào tạo nhằm nâng cao năng lực cho các HTX. Bởi trên thực tế, đa số nông sản và hàng hóa xuất khẩu hiện nay đều do nông dân và HTX trực tiếp sản xuất.
Đổi mới cơ chế hỗ trợ
Để giải quyết bài toán thiếu hụt nguồn lực tài chính cho HTX, ông Đỗ Mạnh Khởi, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể thuộc Bộ Tài chính, đã thông tin về những đề xuất sửa đổi chính sách mang tính đột phá. Cụ thể, Bộ Tài chính đã hoàn thiện dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 113/2024/NĐ-CP (quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã 2023). Dự thảo tập trung sửa đổi các tiêu chí tiền kiểm, bổ sung mức hỗ trợ tài chính cụ thể và cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính nhằm nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực hỗ trợ của khu vực kinh tế tập thể.
Theo ông Đỗ Mạnh Khởi, dự thảo Nghị định 113/2024/NĐ-CP quy định nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực thúc đẩy chuyển đổi số trong khu vực HTX. Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 113/2024/NĐ-CP đã tháo gỡ triệt để vướng mắc về dự toán ngân sách địa phương bằng cách định mức hóa rõ ràng các khoản tài chính hỗ trợ HTX thực hiện chuyển đổi số.
Theo đó, quy định mới tạo điều kiện cho các HTX được tư vấn giải pháp số hóa hoàn toàn miễn phí, đồng thời được ngân sách nhà nước hỗ trợ tới 100% chi phí thuê hoặc mua các giải pháp chuyển đổi số với mức trần tối đa 100 triệu đồng cho mỗi HTX trong một năm.
Bên cạnh đó, dự thảo còn mở rộng chính sách tư vấn miễn phí về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ lãi suất vay vốn thương mại đối với các dự án đầu tư phát triển theo hướng xanh, tạo động lực tài chính trực tiếp và thiết thực để khu vực kinh tế tập thể bứt phá số hóa và vận hành hiện đại.

Ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ.
Phân tích ở góc độ chuyên môn chuyển đổi số quốc gia, ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng với năng lực hiện nay, một HTX không thể tự thẩm định các hợp đồng phần mềm phức tạp, do đó chính sách hỗ trợ cần ưu tiên các giải pháp có thể thuê và sử dụng được ngay.
Theo ông Hoàng Hữu Hạnh, trong điều kiện hiện nay, các cơ chế hỗ trợ gồm 3 lớp: Những chính sách đã có hiệu lực áp dụng trực tiếp (tư vấn chuyển đổi số, sở hữu trí tuệ, phần mềm dùng chung miễn phí của Nhà nước, cổng thông tin HTX quốc gia); những chính sách đã có khung cần địa phương cụ thể hóa; và những nội dung đang ở dạng dự thảo.
Đáng chú ý, từ ngày 1/7/2026, Luật Chuyển đổi số và Nghị định 224/2026/NĐ-CP xác định HTX là đối tượng hỗ trợ cùng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, bao gồm các công cụ đánh giá mức độ số hóa, danh mục nền tảng số và đào tạo kỹ năng.
Đối với các HTX, ông Hạnh đưa ra lộ trình 3 bước thực hiện: Thứ nhất, kiểm tra điều kiện hoạt động hợp pháp theo Luật HTX 2023 và lập hồ sơ theo dõi hỗ trợ để tránh trùng lặp. Thứ hai, tự đánh giá mức độ sẵn sàng theo bộ công cụ ngành (mức 1, 2 hay 3) để chọn đúng gói hỗ trợ. Thứ ba, lựa chọn giải pháp từ danh mục chuẩn, ưu tiên thuê theo tháng, xuất được dữ liệu, có hỗ trợ tại chỗ và bảo đảm an toàn thông tin.
Để chuyển đổi số thành công, ông Hoàng Hữu Hạnh cảnh báo 3 rủi ro lớn cần tránh: có tiền hỗ trợ nhưng không có người dùng khiến phần mềm bị bỏ trống; phụ thuộc vào một nhà cung cấp khiến dữ liệu bị giam hãm; và chạy theo công nghệ mới trong khi nền tảng dữ liệu còn quá yếu. Cả ba rủi ro này đều sẽ được triệt tiêu nếu các HTX và cơ quan quản lý đi đúng thứ tự chiến lược: “Dữ liệu trước, công nghệ sau”. Để hiện thực hóa điều này, cần thí điểm bộ công cụ đánh giá chuyển đổi số theo ngành, rà soát chuẩn liên thông dữ liệu và sớm ban hành hướng dẫn thủ tục hỗ trợ cụ thể ở cấp xã để áp dụng trong thực tiễn.
