Chuyển đổi số ở trường học vùng quê: Đổi mới bắt đầu từ những việc hằng ngày
Chuyển đổi số trong trường học được thể hiện ở việc ứng dụng công nghệ, đồng thời đổi mới cách quản lý, dạy học và tổ chức hoạt động giáo dục.

Một buổi hướng dẫn sử dụng phần mềm Tổng kết thi đua lớp giữa các lớp trước toàn thể cán bộ, giáo viên nhà trường.
Từ thực tiễn Trường THCS và THPT Hưng Lợi (xã Phú Lộc, TP Cần Thơ), những sáng kiến của giáo viên, sự đồng hành của đồng nghiệp và nỗ lực của tập thể nhà trường đang đưa công nghệ vào giải quyết các vấn đề thực tế, lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong giáo viên, học sinh.
Từ dữ liệu học sinh đến những thay đổi trong cách làm việc
Là giáo viên Tin học được giao quản lý hệ thống VnEdu tại Trường THCS và THPT Hưng Lợi, tôi thường xuyên tiếp xúc với các công việc liên quan đến dữ liệu học sinh, học bạ điện tử và tài khoản giáo viên.
Những năm gần đây, chuyển đổi số được lãnh đạo nhà trường quan tâm. Năm học trước, khi lần đầu triển khai học bạ số trên diện rộng, theo thống kê nội bộ và dữ liệu hệ thống, trên 99% học bạ đã được ban hành. Đằng sau kết quả ấy là sự phối hợp của Ban Giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và người phụ trách dữ liệu. Với tôi, giai đoạn kiểm tra, đóng gói và xử lý dữ liệu học bạ số cũng là thời điểm nhiều áp lực.
Năm học 2026 - 2027, việc số hóa tiếp tục mở rộng với sổ đầu bài, giáo án và sổ chủ nhiệm. Quá trình này không phải lúc nào cũng thuận lợi. Khi mới sử dụng sổ đầu bài số, một số giáo viên chưa quen thao tác, giao diện, nên từng đề nghị quay lại sổ giấy. Ban Giám hiệu tiếp tục hướng dẫn, động viên giáo viên sử dụng bản số. Điều đó cho tôi thấy chuyển đổi số không chỉ là thay sổ giấy bằng màn hình mà còn đòi hỏi thay đổi thói quen, cách làm việc và tinh thần học hỏi.
Đối với một ngôi trường vùng quê còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất như trường chúng tôi, chuyển đổi số càng đặt ra không ít thử thách.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng, đồng thời nhấn mạnh việc nâng cao kiến thức số và khuyến khích sáng kiến cải tiến công việc. Trong môi trường phổ thông, theo tôi, cần bắt đầu từ những điều thiết thực: dữ liệu có chính xác hơn, giáo viên làm việc thuận lợi hơn, học sinh được phục vụ tốt hơn và mỗi người có sẵn sàng học hỏi để hoàn thành tốt nhiệm vụ hay không.
Hai phần mềm từ một trăn trở về rèn luyện học sinh
Bên cạnh là giáo viên Tin học, phụ trách hệ thống VnEdu, tôi còn giữ vai trò Phó Bí thư Đoàn trường, thường hỗ trợ giáo viên thực hiện học bạ số, sổ đầu bài số, giáo án số, sổ chủ nhiệm số; cập nhật dữ liệu học sinh và hướng dẫn đoàn viên sử dụng các phần mềm trên môi trường số.
Trong quá trình làm việc, những lỗi dữ liệu, học bạ số hay thao tác lặp lại khiến tôi trăn trở làm sao để công nghệ giảm bớt việc thủ công, giúp giáo viên có thêm thời gian cho công tác giáo dục.
Theo tôi, chuyển đổi số trong trường học phải hướng đến mục tiêu giáo dục con người. Việc đánh giá rèn luyện học sinh cần dựa trên cả quá trình, bảo đảm công bằng, khách quan nhưng không máy móc hay chỉ nhằm xử phạt. Dữ liệu cần giúp giáo viên kịp thời nhắc nhở, động viên, tuyên dương và ghi nhận sự tiến bộ của từng em; phần mềm chỉ hỗ trợ, không thay thế nhận xét sư phạm của người thầy.
Từ thực tế đó, trong năm học 2026 - 2027, tôi xây dựng hai công cụ: Phần mềm Tổng kết thi đua giữa các lớp và Phần mềm quản lý, đánh giá và xếp loại rèn luyện học sinh. Các phần mềm giúp ghi nhận, tổng hợp dữ liệu, theo dõi kết quả theo tuần, tháng, học kỳ và xuất báo cáo, qua đó giảm thao tác thủ công, hỗ trợ giáo viên quản lý nề nếp, đánh giá quá trình rèn luyện của học sinh.

Giới thiệu phần mềm Quản lý và xếp loại rèn luyện học sinh tại Hội nghị viên chức và người lao động.
Ban Giám hiệu tạo điều kiện để tôi giới thiệu, hướng dẫn sử dụng phần mềm trước toàn thể cán bộ, giáo viên trong nhà trường. Sau khi triển khai, phần mềm Tổng kết thi đua giữa các lớp đã được cả 30/30 lớp sử dụng; phần mềm Quản lý, đánh giá và xếp loại rèn luyện học sinh có 27/30 lớp đăng ký sử dụng ngay trong năm đầu.
Với tôi, đây là minh chứng cho thấy một sáng kiến chỉ thực sự có giá trị khi được đưa vào thực tế, có người sử dụng và giải quyết được những khó khăn trong công việc. Tôi rất vui vì các ý tưởng ban đầu của bản thân đã từng bước trở thành công cụ phục vụ công việc chung của chính đồng nghiệp và học sinh của mình.
Tôi hiểu tinh thần Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về việc gắn học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh với chất lượng, hiệu quả công việc từ những việc gần gũi nhất: hoàn thành tốt nhiệm vụ, chủ động tháo gỡ bất cập và chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp. Đôi khi, nhiều giờ làm việc chỉ để một thông tin hiển thị chính xác, nhưng phía sau đó là hồ sơ và quyền lợi của một học sinh.
Cùng học sinh biến ý tưởng thành sản phẩm
Nếu công việc của tôi gắn với dữ liệu, quản trị và vận hành hệ thống số, thì thầy Huỳnh Thanh Phong - Tổ trưởng tổ Tin học - Công nghệ - Nghệ thuật (TH-CN-NT) - lại đưa công nghệ đến gần học sinh qua hoạt động nghiên cứu, sáng tạo.
Bên cạnh xây dựng phần mềm hỗ trợ tổ trưởng quản lý thi đua trong tổ chuyên môn, thầy Phong thường xuyên hướng dẫn học sinh nghiên cứu sản phẩm, tham gia các sân chơi khoa học kỹ thuật, Tin học trẻ, Sáng tạo kỹ thuật và STEM. Qua nhiều năm, các nhóm học sinh có cùng sở thích được tập hợp, cùng giáo viên tìm vấn đề thực tế và phát triển thành sản phẩm.
Một trong những sản phẩm nổi bật là “Hệ thống AI hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người bệnh, người cao tuổi” do hai học sinh Nguyễn Tuấn Khang và Đinh Thị Bích Ngân thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy Phong.
Năm 2025, sản phẩm này đạt giải Nhất Bảng E2 cấp THPT tại Cuộc thi Sáng tạo khoa học công nghệ và kỹ thuật thanh thiếu niên nhi đồng tỉnh Sóc Trăng (Hội thi Tin học trẻ tỉnh Sóc Trăng lần thứ XXVII năm 2025); giải Ba Bảng D3 Vòng Khu vực Hội thi Tin học trẻ toàn quốc lần thứ XXXI; giải Khuyến khích Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Sóc Trăng lần thứ XIV và giải Ba Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp tỉnh năm học 2024 - 2025.
Để đạt kết quả, sản phẩm trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thử nghiệm và hoàn thiện. Qua đó, học sinh học cách nhận diện hạn chế, điều chỉnh tính năng và trình bày ý tưởng thuyết phục hơn. Giá trị không chỉ nằm ở giải thưởng mà còn ở quá trình làm việc nghiêm túc với ý tưởng của mình.

Thầy Huỳnh Thanh Phong và nhóm học sinh đạt giải tại Hội thi Tin học trẻ tỉnh Sóc Trăng (cũ) năm 2025.
Năm học 2025 - 2026, thầy Phong tiếp tục hướng dẫn học sinh phát triển “Thiết bị chuông báo giờ thông minh ứng dụng IoT hỗ trợ quản lý thời gian học tập trong trường học”. Sản phẩm đạt giải Ba Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp thành phố và giải Khuyến khích Hội thi STEM cấp thành phố dành cho học sinh Trung học.
Một sản phẩm ứng dụng AI, một sản phẩm ứng dụng IoT, nhưng đều xuất phát từ những vấn đề thực tế trong đời sống và môi trường học tập.
Trong quá trình làm sản phẩm, học sinh học cách đặt câu hỏi, phân chia công việc, tìm kiếm thông tin, thử nghiệm và sửa sai. Có chi tiết phải làm lại nhiều lần, có ý tưởng cần thay đổi sau khi thử nghiệm. Dù đạt giải hay chưa, các em đều hiểu rằng một lần thử chưa thành công không có nghĩa ý tưởng thất bại.
Người giáo viên không làm thay mà gợi mở hướng đi, kiểm tra tính khả thi và đồng hành cùng học sinh ở những giai đoạn khó khăn. Qua đó, tinh thần sáng tạo dần lan tỏa trong nhà trường.
Nghị quyết 57 nhấn mạnh nâng cao kiến thức số, khuyến khích sáng tạo, cải tiến và phát huy trí tuệ con người. Trong trường học, theo tôi, tinh thần ấy cần bắt đầu từ việc giúp học sinh chuyển từ “biết sử dụng công nghệ” sang “biết dùng công nghệ giải quyết vấn đề thực tế”. Không phải em nào tham gia nghiên cứu cũng trở thành người làm công nghệ, nhưng các em có thể rèn luyện tư duy quan sát, đặt câu hỏi, thử nghiệm và trách nhiệm với sản phẩm mình tạo ra.
Để sáng kiến trở thành việc làm chung của nhà trường
Mỗi giáo viên có hướng công việc khác nhau, nhưng khó đạt kết quả nếu thiếu môi trường khuyến khích đổi mới. Tại Trường THCS và THPT Hưng Lợi, lãnh đạo không chỉ quan tâm đưa học bạ, sổ đầu bài, giáo án, sổ chủ nhiệm lên môi trường số mà còn tạo điều kiện để giáo viên giới thiệu sản phẩm, triển khai thử nghiệm, tiếp nhận phản hồi và hoàn thiện. Cách làm này cần sự kiên trì của lãnh đạo, chủ động của người thực hiện và trách nhiệm chung của tập thể.
Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị nhấn mạnh tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Chỉ thị 07 cũng yêu cầu chuyển từ nhận thức sang thực hành, gắn với kết quả và sản phẩm cụ thể. Trong môi trường giáo dục, điều đó thể hiện qua sự kiên trì đổi mới của lãnh đạo, tinh thần chủ động học hỏi của giáo viên, nỗ lực tháo gỡ khó khăn trong công việc và sự đồng hành cùng học sinh phát triển sản phẩm. Đó cũng là cách tôi hiểu cụm từ: “đưa Nghị quyết vào cuộc sống”: từ chủ trương thành quyết định, từ quyết định thành hành động và từ hành động tạo ra kết quả thiết thực.
Những năm qua, tỷ lệ học sinh lớp 12 của nhà trường tốt nghiệp THPT đạt 100%. Năm học vừa qua, tập thể nhà trường được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đang được đề nghị UBND thành phố tặng Bằng khen. Đây là kết quả chung của nhiều mặt công tác, không thể chỉ quy cho chuyển đổi số. Tuy nhiên, việc tổ chức dữ liệu khoa học hơn, giảm thao tác lặp lại, tăng khả năng theo dõi và tạo điều kiện để giáo viên, học sinh thử nghiệm ý tưởng mới đang góp phần nâng cao tính chủ động trong quản lý, giáo dục.
Với tôi, học tập, quán triệt Nghị quyết không chỉ là hiểu đúng nội dung mà còn phải thể hiện qua cách thực hiện nhiệm vụ. Mỗi vị trí có cách vận dụng riêng, nhưng cần tạo chuyển biến trong công việc, có sản phẩm hoặc kết quả cụ thể, thiết thực cho tập thể.
Chuyển đổi số không chỉ nằm trong máy tính mà còn ở cách mỗi người nhìn lại công việc, chủ động học hỏi, thử nghiệm giải pháp mới và chịu trách nhiệm đến cùng.
Tại một ngôi trường vùng quê như Trường THCS và THPT Hưng Lợi, đổi mới bắt đầu từ những việc giản dị: làm chính xác dữ liệu, kiên trì học cách làm mới, xây dựng phần mềm tháo gỡ bất cập hoặc cùng học sinh phát triển ý tưởng thành sản phẩm. Khi những việc nhỏ được tập thể đón nhận và tạo điều kiện phát triển, chuyển đổi số không còn là yêu cầu trên văn bản mà trở thành công việc hằng ngày của giáo viên và học sinh. Đó cũng là minh chứng thiết thực cho tinh thần đổi mới bắt đầu từ những việc hằng ngày trong môi trường giáo dục.
