Chuyển đổi số tạo động lực phát triển nguồn nhân lực văn hóa (kỳ 1): Con người quyết định giá trị của chuyển đổi số văn hóa

Chuyển đổi số đang mở ra những phương thức mới trong sáng tạo, bảo tồn, quản lý và phát huy các giá trị văn hóa, đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong tiến trình này, con người giữ vai trò chủ thể quyết định, với nền tảng tri thức chuyên môn, năng lực làm chủ công nghệ, bản lĩnh văn hóa và trách nhiệm xã hội, nhằm bảo đảm công nghệ thực sự phục vụ sự phát triển văn hóa bền vững.

Đây là vấn đề đáng chú ý được đặt ra tại Hội thảo khoa học quốc tế "Hợp tác giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới", do Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức vừa qua tại Hà Nội.

Chuyển đổi số định hình lại lao động văn hóa

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, làm chủ và ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến.

Đối với lĩnh vực văn hóa, định hướng này có ý nghĩa quan trọng khi chuyển đổi số đang mở ra những phương thức mới trong sáng tạo, quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Công nghệ tạo điều kiện khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực, mở rộng khả năng tiếp cận công chúng và phát triển những sản phẩm, dịch vụ mới. Tuy nhiên, việc chuyển hóa những khả năng này thành giá trị thực tiễn vẫn phụ thuộc vào năng lực của con người trong tiếp nhận, ứng dụng và làm chủ công nghệ.

Hội thảo khoa học quốc tế “Hợp tác giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới”

Hội thảo khoa học quốc tế “Hợp tác giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới”

GS-TS Từ Thị Loan (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội) cho rằng, nguồn nhân lực là yếu tố quyết định chất lượng, sức sống và khả năng phát triển bền vững của văn hóa. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đối với đội ngũ làm công tác văn hóa ngày càng đa dạng.

Theo đó, xã hội cần một lực lượng nhân lực có chất lượng cao cho hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy, quản lý Nhà nước, bảo tồn và phát huy di sản, tổ chức đời sống văn hóa cơ sở, ngoại giao văn hóa, phát triển cộng đồng, đặc biệt là phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo.

"Mỗi lĩnh vực có đặc thù nghề nghiệp riêng, song đều đòi hỏi nền tảng tri thức văn hóa vững chắc, khả năng nhận diện và xử lý các vấn đề thực tiễn, tinh thần sáng tạo, trách nhiệm xã hội và năng lực thích ứng với biến đổi nhanh của đời sống đương đại" - bà nhấn mạnh.

Mặt khác, GS-TS Từ Thị Loan cho rằng, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo làm thay đổi mạnh mẽ môi trường hoạt động của tất cả các nhóm nhân lực văn hóa, từ đội ngũ nghiên cứu, giảng dạy, quản lý văn hóa đến nhân lực trong các lĩnh vực di sản, nghệ thuật, truyền thông, du lịch và công nghiệp sáng tạo.

Công nghệ tạo điều kiện mở rộng tiếp cận tri thức, số hóa tư liệu, đổi mới phương pháp nghiên cứu và giảng dạy, nâng cao hiệu quả quản lý, đa dạng hóa phương thức sáng tạo và lan tỏa sản phẩm văn hóa. Tuy nhiên, công nghệ cũng đặt ra những vấn đề về năng lực số, bản quyền, đạo đức nghề nghiệp, tính xác thực của thông tin và bảo vệ bản sắc văn hóa.

Vì vậy, đào tạo nguồn nhân lực ngành văn hóa cần được đặt trong một tầm nhìn tổng thể: Vừa bảo đảm nguồn nhân lực cho các thiết chế, hoạt động và lĩnh vực nền tảng của văn hóa, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo. Đây là tiền đề để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, nguồn lực phát triển và nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội.

Đề cập đến yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong chuyển đổi số, TS Trần Thị Mai Thanh (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội) nhấn mạnh: "Đào tạo nguồn nhân lực văn hóa cần phải kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành đa ngành, bởi các vấn đề văn hóa hiếm khi chỉ thuộc về một chuyên môn duy nhất".

Theo chuyên gia, một dự án số hóa di sản đòi hỏi đồng thời hiểu biết về di sản, bảo tồn, pháp lý, dữ liệu, thiết kế trải nghiệm, truyền thông và công nghệ. Những yêu cầu này cho thấy hoạt động nghề nghiệp không còn giới hạn trong phạm vi kiến thức của từng chuyên ngành riêng lẻ, mà cần sự kết hợp giữa các năng lực để giải quyết những vấn đề thực tiễn.

Nhân viên Bảo tàng Lâm Đồng chụp ảnh hiện vật để phục vụ cho việc chuyển đổi số hóa. Ảnh: LDN

Nhân viên Bảo tàng Lâm Đồng chụp ảnh hiện vật để phục vụ cho việc chuyển đổi số hóa. Ảnh: LDN

Sự chuyển dịch này cũng thể hiện ở nhiều lĩnh vực hoạt động văn hóa. Bảo tàng và di tích phát triển trưng bày trực tuyến, thuyết minh đa phương tiện; nghệ thuật biểu diễn mở rộng sang các nền tảng số; truyền thông văn hóa ngày càng gắn với dữ liệu người dùng và thuật toán phân phối; thư viện, lưu trữ và nghiên cứu tăng cường khai thác cơ sở dữ liệu số. Những phương thức hoạt động mới làm gia tăng yêu cầu phối hợp giữa người am hiểu văn hóa với các chuyên gia công nghệ, truyền thông và quản trị.

Từ những chuyển dịch này, có thể thấy phát triển nguồn nhân lực văn hóa không chỉ nhằm đáp ứng những nhiệm vụ truyền thống mà còn phải tính đến các yêu cầu mới về dữ liệu, công nghệ và phương thức sáng tạo.

Tuy nhiên, sự xuất hiện của những năng lực mới không làm giảm vai trò của tri thức và kinh nghiệm nghề nghiệp. Ngược lại, nền tảng chuyên môn vững chắc chính là điều kiện để con người nhận diện, lựa chọn và khai thác những khả năng của công nghệ, bảo đảm các hoạt động chuyển đổi số gắn với mục tiêu bảo tồn, phát huy và sáng tạo những giá trị văn hóa có ý nghĩa đối với xã hội.

Làm chủ công nghệ bằng tri thức và bản lĩnh văn hóa

Sự thay đổi của môi trường nghề nghiệp đặt ra yêu cầu phát triển nguồn nhân lực văn hóa theo hướng kết hợp tri thức chuyên môn, năng lực công nghệ và tư duy sáng tạo. Tuy nhiên, khả năng sử dụng thành thạo các công cụ số mới chỉ là một phần của năng lực nghề nghiệp. Quan trọng hơn là khả năng vận dụng công nghệ để giải quyết những vấn đề thực tiễn, đồng thời bảo đảm chất lượng và giá trị của hoạt động văn hóa.

TS Trần Thị Mai Thanh nhấn mạnh, năng lực số không đồng nghĩa với kỹ năng thao tác phần mềm. Theo bà, đào tạo nguồn nhân lực văn hóa trong chuyển đổi số gồm 3 lớp: Năng lực cốt lõi về văn hóa, năng lực số và năng lực chuyển đổi.

Trong đó, năng lực cốt lõi về văn hóa, bao gồm tri thức về lịch sử, nghệ thuật, di sản, chính sách, quản lý văn hóa và khả năng thấu hiểu giá trị, bản sắc, cộng đồng. Năng lực số thể hiện thông qua việc sử dụng công cụ số, khai thác và đánh giá thông tin, tạo nội dung số, quản trị dữ liệu, giao tiếp - hợp tác trên nền tảng, hiểu biết về AI, an toàn thông tin và bản quyền. Còn năng lực chuyển đổi gắn với tư duy liên ngành, sáng tạo, giải quyết vấn đề, học tập suốt đời, thích ứng với nghề nghiệp mới và khả năng kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái văn hóa.

Các cán bộ, nhân viên Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam chụp ảnh, số hóa và đăng ký toàn bộ hiện vật mới tiếp nhận lên phần mềm chuyên dụng. Ảnh: Phan Phương

Các cán bộ, nhân viên Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam chụp ảnh, số hóa và đăng ký toàn bộ hiện vật mới tiếp nhận lên phần mềm chuyên dụng. Ảnh: Phan Phương

"Với nhân lực văn hóa, công nghệ phải phục vụ cho việc tạo lập, bảo tồn và lan tỏa giá trị văn hóa. Vì vậy, năng lực số luôn cần đặt trong quan hệ với tư duy nhân văn và trách nhiệm xã hội" - bà nhấn mạnh.

Cách tiếp cận này cho thấy việc trang bị kỹ năng công nghệ cần được đặt trên nền tảng chuyên môn. Người làm văn hóa phải hiểu giá trị của đối tượng nghiên cứu, đặc thù hoạt động nghề nghiệp và mục tiêu sử dụng sản phẩm trước khi lựa chọn phương thức công nghệ phù hợp. Thiếu nền tảng ấy, việc ứng dụng công cụ hiện đại có thể nâng cao tốc độ xử lý nhưng chưa chắc cải thiện chất lượng nội dung hoặc hiệu quả khai thác các nguồn lực văn hóa.

Còn GS-TS Từ Thị Loan cho rằng, nhân lực văn hóa trong thời đại mới cần vượt khỏi mô hình chuyên môn đơn tuyến và phải được trang bị đồng thời 4 nhóm năng lực, gồm năng lực chuyên môn văn hóa - nghệ thuật; năng lực công nghệ và số; năng lực quản trị, kinh doanh sáng tạo; năng lực đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội.

"Trong đó, tri thức văn hóa là nền tảng; sáng tạo là năng lực cốt lõi; công nghệ là phương tiện; còn thị trường và cộng đồng là không gian hiện thực hóa giá trị" - bà nhấn mạnh.

Quan điểm này đặc biệt có ý nghĩa trước sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI). AI đang hỗ trợ nhiều công đoạn trong hoạt động văn hóa, từ nhận dạng hình ảnh, phân loại tư liệu, phiên âm, dịch thuật đến xây dựng học liệu và phát triển những phương án sáng tạo. Tuy nhiên, khả năng tạo lập nội dung của công nghệ không đồng nghĩa với khả năng bảo đảm tính xác thực về lịch sử, nghệ thuật và bối cảnh văn hóa.

GS-TS Từ Thị Loan lưu ý: "AI không thể thay thế tri thức văn hóa, năng lực thẩm định, trải nghiệm sống và trách nhiệm xã hội của con người". Theo bà, việc sử dụng sản phẩm do AI tạo ra mà không kiểm chứng có thể dẫn đến tái tạo sai lệch biểu tượng, pha trộn tùy tiện các yếu tố văn hóa hoặc tạo ra thông tin thiếu căn cứ.

Bởi vậy, làm chủ công nghệ còn đòi hỏi năng lực kiểm chứng thông tin, nhận diện những giới hạn của AI và chịu trách nhiệm đối với sản phẩm được tạo ra. Đối với lĩnh vực văn hóa, yêu cầu này gắn trực tiếp với việc bảo vệ quyền tác giả, tính xác thực của tư liệu, bản sắc văn hóa và sự tôn trọng đối với cộng đồng chủ thể di sản. Đây là những vấn đề không thể giải quyết chỉ bằng việc nâng cao kỹ năng thao tác công nghệ.

Từ yêu cầu đó, đổi mới đào tạo phải hướng đến hình thành năng lực thực hành và giải quyết những nhiệm vụ nghề nghiệp cụ thể. Theo chuyên gia, đổi mới đào tạo cần bắt đầu từ chuẩn đầu ra, thay vì bắt đầu từ danh mục công nghệ.

Điều này đòi hỏi xác định rõ những năng lực người học cần đạt được, gắn kiến thức văn hóa với khả năng khai thác dữ liệu, sáng tạo nội dung, sử dụng AI có trách nhiệm và xử lý những tình huống thực tiễn. Chất lượng đào tạo vì vậy cần được đánh giá thông qua khả năng vận dụng kiến thức và kết quả thực hiện nhiệm vụ, thay vì chỉ dựa vào mức độ ghi nhớ hoặc sử dụng công cụ.

Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với Nghị quyết 57-NQ/TW về những nội dung như đổi mới chương trình, hiện đại hóa phương thức đào tạo và ứng dụng công nghệ tiên tiến, nhất là trí tuệ nhân tạo. Cùng với đó, Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghiệp văn hóa, nhất là nhân lực chuyên sâu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong văn hóa và đội ngũ sáng tạo nội dung số.

Trong tiến trình này, phát triển nguồn nhân lực văn hóa không chỉ nhằm thích ứng với sự thay đổi của công nghệ mà còn phải nâng cao khả năng chủ động sáng tạo và định hướng ứng dụng công nghệ. Nền tảng tri thức, bản lĩnh nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội chính là những yếu tố bảo đảm con người giữ vai trò quyết định trong việc bảo tồn, phát huy và sáng tạo các giá trị văn hóa, góp phần phát triển bền vững văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên số.

GS-TS Từ Thị Loan cho rằng, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo làm thay đổi mạnh mẽ môi trường hoạt động của tất cả các nhóm nhân lực văn hóa, từ đội ngũ nghiên cứu, giảng dạy, quản lý văn hóa đến nhân lực trong các lĩnh vực di sản, nghệ thuật, truyền thông, du lịch và công nghiệp sáng tạo.

(Còn tiếp)

Công Bắc

Nguồn Báo Thể Thao & Văn Hóa: https://thethaovanhoa.vn/chuyen-doi-so-tao-dong-luc-phat-trien-nguon-nhan-luc-van-hoa-ky-1-con-nguoi-quyet-dinh-gia-tri-cua-chuyen-doi-so-van-hoa-2026102805213566.htm