Chuyển đổi số thư viện: Cần đồng bộ dữ liệu, nhân lực và cơ chế vận hành
Ngày 30.5, Khoa Thư viện và Xuất bản, Trường Đại học Văn hóa TP.HCM phối hợp với Công ty CP Thư viện số Việt Nam (ViLIB) tổ chức Hội thảo khoa học 'Chuyển đổi số thư viện: Thách thức và cơ hội'.

Chuyên gia khẳng định phát triển thư viện số là xu hướng tất yếu trong quá trình xây dựng xã hội tri thức
Nhiều ý kiến tại hội thảo cho rằng chuyển đổi số đang mở ra cơ hội nâng cao chất lượng hoạt động thư viện, mở rộng khả năng tiếp cận tri thức cho người dân. Tuy nhiên, quá trình triển khai hiện nay vẫn còn nhiều thách thức liên quan đến dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, cơ chế bản quyền và nhu cầu sử dụng thực tế.
Chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu của thư viện
Theo TS. Thái Thu Hoài, Phó Trưởng khoa điều hành Khoa Thư viện và Xuất bản, Trưởng Ban Tổ chức hội thảo, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định dữ liệu số, hạ tầng số và tri thức số là những yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển đất nước. Điều này đặt ra yêu cầu đổi mới đối với ngành thư viện.
Nếu trước đây thư viện chủ yếu làm nhiệm vụ lưu giữ và phổ biến tài liệu thì hiện nay cần tham gia sâu hơn vào việc tổ chức, kết nối và chia sẻ nguồn tri thức trong môi trường số.
Cùng với Nghị quyết số 57-NQ/TW, việc triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Chỉ thị 04 – CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới, tiếp tục đặt ra yêu cầu phải đổi mới hoạt động thư viện theo hướng hiện đại, mở rộng khả năng tiếp cận tri thức và xây dựng môi trường văn hóa số phù hợp với xu thế phát triển hiện nay.

TS. Thái Thu Hoài, Phó Trưởng khoa điều hành Khoa Thư viện và Xuất bản phát biểu
“Hiện nay dữ liệu thư viện ở nhiều nơi vẫn còn phân tán, thiếu chuẩn hóa và chưa liên thông. Hoạt động số hóa chủ yếu diễn ra riêng lẻ ở từng đơn vị. Nhiều thư viện địa phương còn hạn chế về thiết bị và nhân lực kỹ thuật.
Đáng chú ý, đội ngũ làm công tác thư viện hiện nay không chỉ cần nghiệp vụ chuyên môn mà còn phải có khả năng sử dụng công nghệ, quản trị dữ liệu và vận hành các hệ thống thư viện hiện đại”, TS. Thái Thu Hoài nhận định.
Cùng quan điểm này, PGS.TS. Nguyễn Thế Dũng, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TP.HCM cho rằng phát triển thư viện số là xu hướng tất yếu trong quá trình xây dựng xã hội tri thức. Tuy nhiên, theo ông, phát triển thư viện số không đơn thuần là số hóa tài liệu hay đầu tư công nghệ, mà là quá trình chuyển đổi toàn diện về quản trị, hạ tầng, dữ liệu, nhân lực và dịch vụ.
“Bên cạnh nhiều cơ hội từ chính sách, thể chế, công nghệ và nhu cầu xã hội, thư viện số cũng đang đối mặt với nhiều thách thức như thiếu về các nguồn lực, chênh lệch vùng miền, vấn đề bản quyền và an toàn dữ liệu.
Vì vậy, phát triển thư viện số cần được thực hiện theo hướng đồng bộ, lấy người sử dụng thư viện làm trung tâm và bảo đảm khả năng tiếp cận tri thức cho mọi đối tượng”, PGS.TS. Nguyễn Thế Dũng nói.
Kết nối hệ thống thư viện sau sáp nhập
ThS. Vĩnh Quốc Bảo, Phó Giám đốc Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM cho biết việc sáp nhập TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu tạo ra một không gian quản lý mới với quy mô lớn hơn nhiều trước đây.
Theo ông, khi không còn cấp huyện, quận, vai trò hỗ trợ chuyên môn, điều phối tài nguyên và hướng dẫn nghiệp vụ cho thư viện cơ sở phải được tổ chức lại. Trong điều kiện đó, chuyển đổi số trở thành công cụ quan trọng để duy trì hoạt động của toàn hệ thống.

Ông Lê Hoàng bày tỏ lo lắng rằng giới trẻ dành nhiều thời gian cho các hình thức tiếp nhận thông tin khác thay vì đọc sách
Tuy nhiên, việc xây dựng một mạng lưới thư viện số thống nhất không hề đơn giản. Hiện ba địa phương trước đây sử dụng các phần mềm quản lý khác nhau, dữ liệu được xây dựng theo những quy chuẩn riêng.
Ngoài khó khăn về kỹ thuật còn có những vấn đề liên quan đến nhân lực. Theo khảo sát sơ bộ, nhiều cán bộ thư viện tại cơ sở đang làm việc kiêm nhiệm, chưa được đào tạo chuyên sâu về thư viện hoặc công nghệ số.
Bên cạnh đó là sự chênh lệch về điều kiện hạ tầng giữa các địa bàn. Một số thư viện tại khu vực trung tâm có điều kiện tương đối thuận lợi, trong khi nhiều địa phương vùng xa vẫn gặp khó khăn về thiết bị, đường truyền internet và không gian phục vụ.
Theo ThS. Vĩnh Quốc Bảo, thành công của chuyển đổi số phụ thuộc rất lớn vào con người. Hệ thống công nghệ dù hiện đại nhưng nếu thiếu nhân lực vận hành hoặc người dân không sử dụng thì hiệu quả cũng sẽ bị hạn chế.
“Sự ra đời của TP.HCM mới với mô hình chính quyền đô thị hai cấp là cơ hội lịch sử để tái cấu trúc hoàn toàn hệ thống thư viện công cộng theo hướng hiện đại và hiệu quả hơn.
Nếu được triển khai đúng cách, mô hình mới sẽ cho phép người dân tại bất kỳ phường, xã nào thuộc TP.HCM mới – dù ở trung tâm hay xã đảo xa xôi đều có thể tiếp cận kho tài nguyên tri thức đồng đều như nhau”, ông Vĩnh Quốc Bảo nhấn mạnh.

ThS. Dương Văn Chăm chia sẻ về việc kết nối học liệu và xây dựng cơ sở dữ liệu chung
Theo ThS. Dương Văn Chăm, giảng viên Khoa Du lịch, Trường Đại học Văn hóa TP.HCM, việc kết nối học liệu và xây dựng cơ sở dữ liệu chung giúp các trường đại học khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên, giảm chi phí và mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức cho người học.
Tuy nhiên, quá trình này đòi hỏi chuẩn hóa dữ liệu, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và tăng cường kết nối giữa các đơn vị. Theo ông, bên cạnh đầu tư công nghệ, cần đổi mới tư duy quản trị theo hướng chia sẻ và khai thác chung nguồn tài nguyên tri thức.
Vấn đề bản quyền đang là bài toán khó
Chia sẻ tại hội thảo, TS. Sophie Lesinska, Đại học Nam California (Hoa Kỳ), cho biết nhiều thư viện tại Hoa Kỳ cũng đang đối mặt với những khó khăn tương tự Việt Nam trong quá trình chuyển đổi số.
Trong đó, nổi bật là hạn chế về nguồn kinh phí để xây dựng và mua quyền truy cập các cơ sở dữ liệu điện tử, cùng những vấn đề liên quan đến bản quyền trong việc khai thác, sử dụng và phát triển các nguồn tài nguyên số của thư viện. Theo bà, đây là những thách thức chung mà nhiều thư viện trên thế giới đang phải tìm giải pháp tháo gỡ.

TS. Sophie Lesinska cho biết nhiều thư viện tại Hoa Kỳ cũng đang đối mặt với những khó khăn tương tự Việt Nam trong quá trình chuyển đổi số
Theo ông Lê Hoàng, Giám đốc Công ty Đường Sách TP.HCM, việc số hóa sách còn gặp nhiều rào cản về bản quyền. Nhiều xuất bản phẩm được mua bản quyền để phát hành dưới dạng sách in, muốn chuyển sang sách điện tử phải đàm phán lại với tác giả hoặc đối tác sở hữu bản quyền, đặc biệt là các đối tác nước ngoài. Đây là quá trình phức tạp và tốn kém.
Một khó khăn khác là chi phí đầu tư hạ tầng công nghệ để xây dựng và vận hành hệ thống sách điện tử. Theo ông Lê Hoàng, việc chuyển đổi từ sách giấy sang ebook không chỉ là vấn đề kỹ thuật số hóa nội dung mà còn đòi hỏi nền tảng công nghệ đủ mạnh để quản lý, lưu trữ, phân phối và bảo vệ dữ liệu.
“Trong khi đó, tình trạng sách điện tử lậu vẫn diễn ra phổ biến trên môi trường mạng, làm giảm hiệu quả đầu tư của các đơn vị xuất bản và ảnh hưởng đến động lực chuyển đổi số”, ông Lê Hoàng tâm tư.
Bên cạnh những vấn đề về nguồn tài nguyên, ông Lê Hoàng cũng cho rằng thói quen đọc sách của cộng đồng là một thách thức không nhỏ đối với thư viện số.
Sự phát triển của các nền tảng mạng xã hội và nội dung ngắn khiến nhiều người, đặc biệt là giới trẻ, dành nhiều thời gian cho các hình thức tiếp nhận thông tin khác thay vì đọc sách. Vì vậy, dù đầu tư hạ tầng số hiện đại, thư viện vẫn cần giải quyết câu chuyện thu hút và duy trì người đọc.
Dù vậy, ông bày tỏ sự lạc quan trước những tín hiệu tích cực từ các chủ trương mới của Đảng và Nhà nước về phát triển ngành xuất bản và văn hóa đọc.
Theo ông, yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động xuất bản cùng định hướng đưa hoạt động đọc sách vào trường học sẽ góp phần mở rộng nguồn tài nguyên số, hình thành thói quen đọc trong thế hệ trẻ và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của thư viện số trong thời gian tới.

Ông Nguyễn Anh Dũng – Giám đốc Công ty CP Thư viện số Việt Nam chia sẻ tại hội thảo
Ông Nguyễn Anh Dũng – Giám đốc Công ty CP Thư viện số Việt Nam (ViLIB) cho biết nền tảng ViLIB không thay thế thư viện mà đóng vai trò hạ tầng dùng chung, hỗ trợ quản lý tài nguyên, số hóa, liên thông dữ liệu và chia sẻ tài nguyên giữa các thư viện.
Theo ông Dũng, một trong những vướng mắc lớn hiện nay của nhiều thư viện là vấn đề bản quyền đối với tài nguyên số, khiến nhiều tài liệu đã được số hóa nhưng vẫn khó khai thác rộng rãi.
ViLIB đang phát triển các giải pháp quản lý bản quyền minh bạch, cho phép tác giả, nhà nghiên cứu và các thư viện tham gia đóng góp, chia sẻ tài nguyên trên nền tảng, đồng thời bảo đảm quyền lợi của chủ sở hữu nội dung trong quá trình khai thác và sử dụng.
Phát biểu tại hội thảo, TS. Trịnh Đăng Khoa, Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Văn hóa TP.HCM cho rằng, xây dựng thư viện số không chỉ là mục tiêu lâu dài mà cần bắt đầu từ những nền tảng căn bản như phát triển nguồn tài nguyên số, dịch vụ số và hạ tầng phục vụ hoạt động thư viện. Đây là những điều kiện quan trọng để từng bước hình thành mô hình thư viện hiện đại và quản trị số trong tương lai.

TS. Trịnh Đăng Khoa, Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Văn hóa TP.HCM phát biểu
Ông cũng cho biết Bộ VHTTDL đã phê duyệt đề án xây dựng thư viện mới hiện đại tại cơ sở 2 của Trường Đại học Văn hóa TP.HCM. Công trình sẽ được đầu tư đồng bộ, vừa phục vụ học tập, nghiên cứu, vừa đáp ứng yêu cầu đào tạo ngành thư viện trong giai đoạn mới. Đây là bước tiến quan trọng về cơ sở vật chất, tạo điều kiện để nhà trường nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu.
Tuy nhiên, theo TS. Trịnh Đăng Khoa, cơ sở vật chất chỉ là một phần của quá trình chuyển đổi số. Yếu tố quyết định vẫn là công nghệ và đặc biệt là nguồn nhân lực. Nhà trường cần chuẩn bị đội ngũ có đủ năng lực để vận hành, quản lý và phát triển các mô hình thư viện số trong tương lai.
TS. Khoa nhấn mạnh, với vai trò là cơ sở đào tạo hàng đầu của ngành này ở khu vực phía Nam, Trường Đại học Văn hóa TP.HCM cần tiên phong trong đào tạo nhân lực thư viện số, góp phần cung cấp đội ngũ chuyên môn chất lượng cao cho hệ thống thư viện cả nước và lan tỏa quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực thư viện.











