Chuyển đổi số xanh: 'Đòn bẩy' nâng tầm doanh nghiệp trong kỷ nguyên mới
Chuyển đổi số gắn với chuyển đổi xanh đang trở thành xu thế tất yếu trong bối cảnh phát triển mới. Tại Hội thảo 'Chuyển đổi số xanh: Động lực phát triển doanh nghiệp trong kỷ nguyên mới' diễn ra ngày 30-3 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia do Tạp chí Nông nghiệp Việt Nam tổ chức.
Tại hội thảo, các đại biểu, chuyên gia và nhà quản lý đã cùng phân tích sâu bối cảnh, chỉ ra những thách thức, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi kép trong lĩnh vực nông nghiệp.
Công nghệ số, công cụ kiểm soát và nâng cao giá trị
Phát biểu khai mạc hội thảo, Tiến sĩ Đào Xuân Hưng, Tổng Biên tập Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, ứng dụng khoa học, công nghệ, mà còn tạo điều kiện mở rộng không gian phát triển thông qua thương mại điện tử, kết nối thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong bối cảnh các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe, đặc biệt là các quy định liên quan đến phát thải và bảo vệ môi trường, doanh nghiệp không thể tiếp tục mô hình tăng trưởng tuyến tính, tiêu tốn tài nguyên. Thay vào đó, việc chuyển sang kinh tế nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn là yêu cầu bắt buộc.

Tiến sĩ Đào Xuân Hưng, Tổng Biên tập Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Lê Huy
Tiến sĩ Đào Xuân Hưng cũng chỉ rõ, xu hướng tất yếu hiện nay là mô hình “chuyển đổi kép” sự kết hợp giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Trong đó, công nghệ số và dữ liệu quốc gia không chỉ đóng vai trò hỗ trợ mà đã trở thành “nguồn tài nguyên chiến lược mới”, giúp kiến tạo các giá trị xanh thực chất.
Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các đơn vị tham gia chuỗi giá trị nông nghiệp, việc làm chủ hạ tầng số và khai thác dữ liệu được xem là chìa khóa thành công. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể tối ưu chi phí, minh bạch hóa chuỗi cung ứng, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và tiếp cận nguồn tài chính xanh.

PGS.TS. Phạm Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Lê Huy
Tại hội thảo, PGS.TS. Phạm Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch cho rằng, ngành Nông nghiệp Việt Nam đang đối mặt với áp lực môi trường và yêu cầu ngày càng cao từ thị trường, đòi hỏi một cách tiếp cận mang tính hệ thống.
Những hạn chế nội tại của ngành như sản xuất phân tán, tổn thất sau thu hoạch cao và giá trị gia tăng thấp. Trong khi đó, các yêu cầu mới đặt ra là cần bảo đảm truy xuất nguồn gốc, minh bạch thông tin, giảm phát thải và nâng cao giá trị sản phẩm. Áp lực kép từ biến đổi khí hậu và cạnh tranh thị trường đang buộc ngành Nông nghiệp phải thay đổi mạnh mẽ.

Quang cảnh hội nghị. Ảnh: Lê Huy
Do đó, công nghệ số không chỉ giúp nâng cao năng suất, mà còn là công cụ quan trọng để kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất, bảo quản và chế biến, góp phần giảm phát thải và nâng cao hiệu quả. Thực tế cho thấy, việc ứng dụng công nghệ số đã mang lại những kết quả tích cực.
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt gần 70 tỷ USD, tăng trưởng GDP ngành đạt khoảng 3,7-3,92%. Nhiều mô hình ứng dụng công nghệ như internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thiết bị bay không người lái (drone) hay công nghệ chuỗi khối (blockchain) đã giúp giảm chi phí sản xuất từ 15 đến 25% và tăng năng suất từ 10 đến 15%.
Tại Việt Nam, theo Quyết định số 749/QĐ-TTg, nông nghiệp là một trong 8 lĩnh vực ưu tiên chuyển đổi số. Thực tế cho thấy, quá trình này đang từng bước chuyển từ "sản xuất theo kinh nghiệm" sang "quản trị chính xác". Nhiều công nghệ đã được áp dụng như IoT giám sát môi trường, drone phun thuốc, AI dự báo dịch bệnh hay các nền tảng truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử nông sản. Điều này không chỉ giúp đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế, mà còn gia tăng giá trị sản phẩm. Ngoài ra, trong các chương trình sản xuất nông nghiệp phát thải thấp, việc số hóa quy trình đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) đã tạo ra cơ sở dữ liệu minh bạch, phục vụ việc cấp tín chỉ carbon. Đây được xem là hướng đi mới, mở ra nguồn tài chính xanh đầy tiềm năng cho doanh nghiệp.
Hoàn thiện thể chế, tháo gỡ điểm nghẽn
Bên cạnh những kết quả đạt được, các đại biểu cũng thẳng thắn chỉ ra nhiều khó khăn trong quá trình triển khai chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Hiện chỉ khoảng 30% doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ số, chủ yếu ở các khâu đơn giản như truy xuất nguồn gốc hay quản lý bán hàng. Việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vẫn tập trung ở một số doanh nghiệp lớn hoặc trang trại quy mô lớn.

Các đại biểu thảo luận tại hội nghị. Ảnh: Lê Huy
Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi, các chuyên gia cho rằng cần hoàn thiện khung chính sách tích hợp giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Trong đó, cần xây dựng cơ chế tín dụng xanh với lãi suất ưu đãi, ưu tiên cho các dự án nông nghiệp chính xác, nông nghiệp tuần hoàn và chế biến sâu. Đồng thời, cần ban hành các cơ chế khuyến khích phát triển thị trường carbon trong nông nghiệp, thúc đẩy các mô hình như canh tác carbon hay tín chỉ carbon. Việc chuẩn hóa hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về truy xuất nguồn gốc và đánh giá phát thải cũng là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh.

Chuyển đổi số giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Ảnh: PV
Về hạ tầng, cần đầu tư đồng bộ hệ thống internet băng rộng đến các vùng sản xuất, phát triển mạng lưới cảm biến và trạm quan trắc, đồng thời xây dựng các nền tảng số phục vụ quản lý trang trại, truy xuất nguồn gốc và giao dịch nông sản.
Ngoài ra, việc phát triển nguồn nhân lực cũng được xác định là nhiệm vụ quan trọng. Cùng với đó, tăng cường đào tạo kỹ năng công nghệ và nâng cao nhận thức về sản xuất bền vững. Đồng thời, cần phát triển đội ngũ chuyên gia liên ngành và đẩy mạnh chuyển giao công nghệ tại địa phương.
Chuyên gia Hà Phan Kim Nguyệt (nhà sáng lập UPGreen Vietnam-Xanh lên Việt Nam) nhấn mạnh, chuyển đổi xanh nên bắt đầu từ quy mô nhỏ, có tiêu chuẩn truy xuất và dữ liệu ESG rõ ràng. Đào tạo cần gắn thực hành, hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp tạo tác động. Cốt lõi là đổi tư duy: Từ tuyến tính sang tuần hoàn, từ cam kết sang dữ liệu kiểm chứng.
Thực trạng hiện nay cho thấy quá trình chuyển đổi vẫn còn nhiều rào cản, từ hạn chế về nguồn lực, công nghệ đến năng lực quản trị. Tuy nhiên, với sự đồng hành của Nhà nước, sự tham gia của các viện nghiên cứu, doanh nghiệp và người dân, cùng với các giải pháp đồng bộ về chính sách, hạ tầng và nhân lực, những khó khăn này hoàn toàn có thể được tháo gỡ.
Thời gian tới, chuyển đổi xanh cần tiếp tục được thúc đẩy mạnh mẽ, gắn chặt với chuyển đổi số để tạo ra các giá trị bền vững. Đây không chỉ là giải pháp nhằm giảm phát thải, bảo vệ môi trường, mà còn là con đường để nâng cao giá trị nông sản, tăng sức cạnh tranh và đưa nông nghiệp Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững.











