Chuyển đổi xanh ngành hàng lúa gạo và bài toán liên kết bền vững tại ĐBSCL

Tại thành phố Cần Thơ - một trong ba địa phương có diện tích quy hoạch lớn nhất Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, thành phố đã triển khai 89 mô hình thí điểm trên diện tích 14.000 ha.

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Sau hơn hai năm triển khai Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” (Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao), tư duy sản xuất lúa gạo tại miền Tây đang có sự chuyển dịch sâu sắc.

Từ những mô hình thí điểm ban đầu mang lại hiệu quả kinh tế-môi trường rõ rệt, vùng trọng điểm lúa gạo lớn nhất cả nước đang từng bước tháo gỡ các "điểm nghẽn" về hạ tầng, quy trình MRV và liên kết chuỗi giá trị.

Những con số ấn tượng từ thực tiễn

Đánh giá sau hơn 2 năm triển khai Quyết định 1490/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, diện tích áp dụng quy trình canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến nay đã đạt khoảng 420.000 ha; trong đó có 67.000 ha tuân thủ nghiêm ngặt toàn bộ quy trình chuẩn.

Nhờ tối ưu hóa các yếu tố đầu vào như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới, thu nhập của người nông dân tham gia mô hình đã tăng thêm từ 1,5 đến 9,3 triệu đồng/ha tùy mùa vụ.

Tại thành phố Cần Thơ - một trong ba địa phương có diện tích quy hoạch lớn nhất Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao (với mục tiêu 170.877 ha đến năm 2030), thành phố đã triển khai 89 mô hình thí điểm trên diện tích 14.000 ha.

Bà Nguyễn Thị Giang, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ nhấn mạnh, các mô hình thí điểm giúp giảm 40-50% lượng giống gieo sạ, giảm trên 30% lượng phân đạm, giảm 30-40% lượng nước tưới và cắt giảm phát thải khí nhà kính từ 6-12 tấn CO₂/ha, giúp nâng cao đáng kể lợi nhuận cho nông dân.

Tương tự, tại An Giang - địa phương đăng ký diện tích lớn nhất vùng với 351.362 ha đến năm 2030 (chiếm hơn 30% tổng diện tích Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao), công tác triển khai ghi nhận nhiều kết quả tích cực.

Ông Trần Thanh Hiệp, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang thông tin, tính đến nay, tỉnh đã xây dựng hơn 100 mô hình điểm nhằm giúp người dân thấy rõ hiệu quả thực tế của canh tác lúa giảm phát thải.

Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền và lan tỏa, Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao tại An Giang đã thu hút khoảng 77.000 hộ nông dân cùng 41 doanh nghiệp đồng hành cùng chính quyền địa phương. Hằng năm, diện tích lúa liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp đạt trên 50.000 ha.

Việc áp dụng quy trình mới giúp giảm chi phí sản xuất từ 3-5 triệu đồng/ha, nâng cao đáng kể lợi nhuận cho người trồng lúa (có những diện tích đạt lợi nhuận hơn 9 triệu đồng/ha).

Mặc dù đạt nhiều thành quả thiết thực, lãnh đạo ngành nông nghiệp các địa phương thừa nhận quá trình thực hiện chuyển đổi ngành hàng lúa gạo theo hướng xanh vẫn đối mặt với không ít "điểm nghẽn."

Hệ thống hạ tầng thủy lợi, giao thông nội đồng và dịch vụ cơ giới hóa ở nhiều vùng chưa đồng bộ, gây khó khăn cho việc chủ động rút nước ngập khô xen kẽ.

Bên cạnh đó, tỷ lệ thu gom, xử lý phụ phẩm rơm rạ đúng cách còn thấp; năng lực quản trị của các hợp tác xã cùng khả năng tiếp cận vốn tín dụng của nông dân vẫn là rào cản lớn.

Đặc biệt, mối liên kết bao tiêu sản phẩm giữa doanh nghiệp và hợp tác xã tại nhiều nơi còn manh mún, thiếu tính cam kết dài hạn. "Thách thức lớn nhất hiện nay là nếu sản phẩm lúa gạo chất lượng cao, giảm phát thải làm ra mà chưa có thị trường tiêu thụ ổn định, mức hỗ trợ lợi ích chưa được chia sẻ hợp lý thì rất khó duy trì sự tham gia bền vững của người dân," ông Văn Hữu Huệ, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long cho biết.

Xuất phát từ thực tiễn sản xuất, bà Nguyễn Thị Giang, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ kiến nghị các Bộ, ngành Trung ương hỗ trợ triển khai các dự án kỹ thuật chuyên sâu; đầu tư duy tu và hoàn thiện hạ tầng nội đồng; đồng thời hỗ trợ chính sách tín dụng ưu đãi cho các hợp tác xã và nông dân.

Thành phố cũng đề xuất đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, hỗ trợ xây dựng mã số vùng trồng, lập bản đồ số dữ liệu nông nghiệp phục vụ công tác quản lý minh bạch.

Trong khi đó, đại diện ngành nông nghiệp hai tỉnh An Giang và Vĩnh Long mong muốn các cơ quan Trung ương tiếp tục hoàn thiện, ban hành hướng dẫn kỹ thuật chi tiết về phương pháp đo đạc, báo cáo giảm phát thải (MRV) dễ áp dụng; tháo gỡ cơ chế, hỗ trợ vốn đầu tư hạ tầng trạm bơm, điều tiết nước và giao thông nội đồng phục vụ cơ giới hóa đồng bộ.

Các địa phương này cũng đề nghị các tổ chức quốc tế tiếp tục đồng hành trong việc nâng cao năng lực cho nông dân, hợp tác xã, thúc đẩy các mô hình kinh tế tuần hoàn, tăng cường chuỗi sinh kế cho phụ nữ và hỗ trợ nghiên cứu khung chính sách chuyển đổi xanh bền vững cho toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Chuẩn hóa hệ thống MRV và bài toán liên kết chuỗi

Một trong những trụ cột kỹ thuật quan trọng nhất để thương mại hóa hạt gạo phát thải thấp và tiếp cận thị trường carbon quốc tế là hệ thống Đo đạc, Báo cáo và Thẩm định (MRV).

Cung cấp thông tin về tiến trình này, ông Mai Văn Trịnh, Viện trưởng Viện Môi trường Nông nghiệp cho biết, quy trình MRV chuẩn gồm 6 bước (Chuẩn bị, Đăng ký, Xác định phát thải cơ sở, Giám sát-Tính toán phát thải dự án, Báo cáo và Thẩm định) đang được thí điểm từ tháng 11/2025 đến cuối năm 2026 tại 11 mô hình mẫu (50 ha/mô hình). Kết quả thực tế cho thấy mức giảm phát thải trung bình đạt từ 3,7 đến 4,6 tấn CO₂ tương đương/ha/vụ.

Tuy nhiên, ông Mai Văn Trịnh cũng cảnh báo, nếu nông dân vùi rơm rạ tươi trực tiếp xuống đồng ruộng khi thời gian phân hủy dưới 30 ngày sẽ làm gia tăng lượng phát thải khí mê-tan từ 1,5 đến 3 lần so với canh tác truyền thống.

Do đó, các giải pháp kỹ thuật cốt lõi được khuyến nghị bắt buộc là áp dụng tưới khô ngập xen kẽ (AWD) - giúp giảm 45% lượng phát thải nếu rút nước thành công 2 lần/vụ - kết hợp vùi ủ rơm rạ đúng cách trên 30 ngày hoặc đưa rơm rạ ra khỏi đồng ruộng để làm nấm, phân compost, giúp giảm tới 83% lượng phát thải.

Dữ liệu MRV minh bạch không chỉ giúp khẳng định thương hiệu "Gạo Việt xanh" mà còn là cơ sở để tính toán tín chỉ carbon, tạo thêm nguồn thu mới cho nông dân.

Ở góc độ kết nối thị trường, liên kết chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp và hợp tác xã được xác định là hạt nhân quyết định tính sống còn của Đề án. Nhìn nhận thực trạng liên kết hiện nay, ông Nguyễn Trung Thực, Viện trưởng Viện Công nghệ và Đổi mới sáng tạo doanh nghiệp (Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI) cho rằng, dù đã có nhiều hợp đồng ký kết nhưng mối liên kết vẫn thiếu tính bền vững, hay bị đứt đoạn sau từng mùa vụ do xung đột lợi ích ngắn hạn.

Để đạt mục tiêu 100% hộ nông dân tham gia Đề án có liên kết bền vững với doanh nghiệp vào năm 2030, đại diện VCCI đề xuất cần thay đổi căn bản tư duy kinh tế: Chuyển từ quan hệ mua bán ngắn hạn đứt đoạn sang mô hình "cộng đồng cùng làm, cùng hưởng, cùng phát triển."

Ông Nguyễn Trung Thực kiến nghị Nhà nước và các đối tác cần hỗ trợ đồng bộ cho doanh nghiệp ở 5 khía cạnh trọng tâm: Xây dựng vùng nguyên liệu ổn định quy mô lớn; tạo điều kiện tiếp cận các gói tín dụng ưu đãi; hỗ trợ công nghệ số và dữ liệu truy xuất nguồn gốc; mở rộng thị trường xuất khẩu; và thiết lập cơ chế chia sẻ rủi ro công bằng giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nông dân.

Xuất phát từ thực tiễn sản xuất, chính quyền các tỉnh, thành vùng Đồng bằng sông Cửu Long cùng chung quan điểm cho giai đoạn 2026–2030 là chuyển mạnh từ tư duy "sản xuất nông nghiệp" sang "kinh tế nông nghiệp" chú trọng chất lượng, hiệu quả kinh tế và tính bền vững; tập trung phát triển vùng chuyên canh lúa có trọng tâm, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng từng vùng sinh thái thay vì chạy theo số lượng diện tích.

Để thực hiện thành công các mục tiêu đề ra, các địa phương sẽ tập trung tổ chức lại sản xuất thông qua bốn nhóm giải pháp đột phá trọng tâm.

Trước hết, nguồn lực sẽ được ưu tiên để hoàn thiện hạ tầng thiết yếu, trọng tâm là nâng cấp hệ thống trạm bơm, điều tiết nước thông minh và giao thông nội đồng nhằm phục vụ cơ giới hóa đồng bộ.

Bên cạnh đó, việc chuyển giao kỹ thuật khép kín và nâng cao năng lực cho nông dân cùng các hợp tác xã sẽ được đẩy mạnh, hướng dẫn người dân áp dụng đồng bộ quy trình bón phân cân đối, quản lý nước rút ngập khô xen kẽ (AWD), quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và xử lý rơm rạ đúng cách để tối ưu hóa hiệu quả giảm phát thải.

Song song với kỹ thuật, các địa phương sẽ đổi mới chuỗi liên kết theo hướng lấy hợp tác xã làm đầu mối tổ chức sản xuất tại cơ sở và doanh nghiệp làm đầu mối kết nối thị trường tiêu thụ.

Mô hình kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số sẽ được thúc đẩy thông qua hoạt động thu gom, tái sử dụng rơm rạ làm nấm, kết hợp ứng dụng các giải pháp công nghệ số như nhật ký điện tử, lập bản đồ số vùng chuyên canh, cấp mã số vùng trồng, phục vụ công tác đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) một cách minh bạch…

Hướng tới giai đoạn 2027-2030, bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thông tin, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang trình Chính phủ điều chỉnh Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng ra toàn bộ vùng lúa chuyên canh của Đồng bằng sông Cửu Long với quy mô khoảng 1,6-1,7 triệu ha.

Đồng thời, các tiêu chí ràng buộc hành chính sẽ được tinh giản tối đa nhằm thu hút sự tham gia sâu rộng của các thành phần kinh tế và tổ chức quốc tế.

Sự đồng lòng giữa "các nhà" trong hệ sinh thái nông nghiệp xanh sẽ là đòn bẩy đưa ngành hàng lúa gạo Việt Nam bứt phá, khẳng định vị thế dẫn dắt trên thị trường quốc tế theo hướng chất lượng, minh bạch và phát triển bền vững./.

(TTXVN/Vietnam+)

Nguồn VietnamPlus: https://www.vietnamplus.vn/chuyen-doi-xanh-nganh-hang-lua-gao-va-bai-toan-lien-ket-ben-vung-tai-dbscl-post1144993.vnp