Chuyển đổi xanh ở Hải Phòng: Kinh tế tuần hoàn – động lực tạo dựng lợi thế cạnh tranh mới

Kết quả một đề tài được nghiệm thu cuối tháng 6/2026 cho thấy 74,4% tiêu chí kinh tế tuần hoàn của Hải Phòng mới ở mức “chuyển đổi”. Con số này phản ánh hai mặt của một quá trình đang tăng tốc: thành phố đã xuất hiện những mô hình cộng sinh công nghiệp...

Kết quả nghiệm thu đề tài khoa học cấp thành phố vào cuối tháng 6/2026 ghi nhận một thực tế đáng chú ý: 74,4% tiêu chí kinh tế tuần hoàn của Hải Phòng hiện nằm ở mức “đang chuyển đổi”. Con số này không chỉ phản ánh bức tranh hai mặt của một nền kinh tế công nghiệp đang bứt tốc hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, mà còn đặt ra bài toán chiến lược: Làm thế nào để kinh tế tuần hoàn thoát khỏi “chiếc áo” của những mô hình thử nghiệm hay báo cáo môi trường hình thức, trở thành động lực nội tại tạo dựng lợi thế cạnh tranh cốt lõi cho thành phố Cảng?

Nhìn thẳng vào con số 74,4%: Khoảng cách và thách thức “vượt ngưỡng”

Sáng 26/6/2026, tại Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng, một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với định hướng phát triển bền vững của thành phố đã diễn ra: Đề tài nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá và giải pháp phát triển kinh tế tuần hoàn (KTHH) chính thức được nghiệm thu. Đây là lần đầu tiên Hải Phòng sở hữu một công cụ đo lường khoa học, đa tầng nhằm định lượng chính xác mức độ “xanh hóa” của nền kinh tế địa phương.

Nhóm nghiên cứu xây dựng ba bộ tiêu chí cho cấp địa phương, công nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp – thủy sản. Kết quả cho thấy kinh tế tuần hoàn của Hải Phòng chưa đạt mức tiên phong toàn diện; 74,4% tiêu chí đang ở mức “chuyển đổi”. Khối doanh nghiệp FDI và công nghiệp công nghệ cao có tốc độ chuyển đổi nhanh hơn, trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước cùng khu vực nông nghiệp còn chậm do thiếu nguồn lực.

Nghiên cứu cũng nhận diện ba rào cản cốt lõi là pháp lý, tài chính và dữ liệu. Trong công nghiệp công nghệ cao, các điểm nghẽn được chỉ ra gồm thiếu hạ tầng tái chế sâu, đứt gãy logistics ngược và chênh lệch về năng lượng trong chuỗi cung ứng. Đây là những kết quả đáng chú ý trong thời điểm Hải Phòng xác định kinh tế tuần hoàn là động lực của chuyển đổi xanh.

Con số 74,4% không chỉ cho thấy khoảng cách với mục tiêu tiên phong. Nó còn đặt ra một câu hỏi: Làm thế nào để kinh tế tuần hoàn không dừng ở những mô hình thử nghiệm, báo cáo môi trường hoặc hoạt động tái chế đơn lẻ?

Trong mô hình kinh tế tuyến tính truyền thống (Linear Economy), dòng chảy tài nguyên vận hành theo chu trình đơn điệu: “Khai thác – Sản xuất – Thải bỏ”. Trọng tâm của công tác quản lý môi trường suốt nhiều thập kỷ qua chủ yếu đặt ở “cuối đường ống” (end-of-pipe): nước thải phải đạt chuẩn trước khi xả ra sông biển, khí thải phải qua hệ thống lọc, và chất thải rắn được thu gom đưa đến bãi chôn lấp. Đây là tư duy xử lý thụ động, không chỉ gây tốn kém chi phí vận hành cho doanh nghiệp mà còn bỏ ngỏ nguy cơ sự cố môi trường.

Kinh tế tuần hoàn (Circular Economy) tiếp cận bài toán từ một góc nhìn hoàn toàn khác – bắt đầu sớm hơn rất nhiều. Ngay từ khâu thiết kế sản phẩm, quy hoạch hạ tầng và tổ chức dây chuyền nhà máy, doanh nghiệp đã phải tính toán toàn diện các giải pháp: tiết giảm nguyên liệu đầu vào, kéo dài vòng đời sản phẩm, tuần hoàn tài nguyên nước, thu hồi năng lượng dư thừa và đưa vật liệu phế thải quay trở lại quy trình sản xuất.

Trong một khu công nghiệp sinh thái, phụ phẩm của nhà máy này có thể trở thành nguyên liệu của nhà máy khác. Nước sau xử lý có thể được tái sử dụng cho công đoạn phù hợp. Nhiệt dư có thể được thu hồi. Kim loại, nhựa, bao bì và vật liệu xây dựng có thể được phân loại, tái chế hoặc tái sử dụng thay vì trở thành gánh nặng xử lý.

Mục tiêu không đơn thuần là giảm chất thải, mà là kéo dài giá trị của tài nguyên và giảm chi phí cho doanh nghiệp.

Nghị quyết số 08-NQ/TU yêu cầu chuyển đổi các khu công nghiệp sang mô hình sinh thái, thúc đẩy sản xuất sạch hơn, kiểm toán năng lượng và cộng sinh công nghiệp. Thành phố định hướng xây dựng nền tảng dữ liệu tập trung để kết nối cung – cầu chất thải và tài nguyên giữa các doanh nghiệp; đồng thời phát triển đào tạo về quản lý môi trường, năng lượng, kinh tế tuần hoàn và thị trường carbon.

Đến năm 2030, Hải Phòng đặt mục tiêu chuyển đổi thành công Khu công nghiệp Nam Cầu Kiền và Khu công nghiệp Đình Vũ thành hai mô hình khu công nghiệp sinh thái, làm cơ sở nhân rộng; tối thiểu 50% số khu công nghiệp đăng ký chuyển đổi.

Đề tài khoa học nghiệm thu tháng 6 ghi nhận những điểm sáng tại hai khu vực này. Theo số liệu của nhóm nghiên cứu, Nam Cầu Kiền đã hình thành ba chuỗi cộng sinh liên quan đến thép, nhựa và công nghiệp phụ trợ; Tổ hợp DEEP C triển khai năng lượng tái tạo và thí điểm tuần hoàn nước bằng công nghệ RO. Tuy nhiên, hội đồng nghiệm thu yêu cầu rà soát, ghi rõ nguồn trích dẫn và chỉnh sửa một số số liệu trước khi hoàn thiện báo cáo.

Chi tiết này rất quan trọng. Kinh tế tuần hoàn chỉ có thể tạo dựng niềm tin khi các kết quả tiết kiệm tài nguyên và giảm phát thải được đo lường bằng phương pháp rõ ràng, có nguồn dữ liệu và khả năng kiểm chứng.

Một mô hình không thể được coi là thành công chỉ vì có hoạt động trao đổi phụ phẩm. Cần biết bao nhiêu tấn nguyên liệu mới được thay thế, bao nhiêu mét khối nước được tái sử dụng, bao nhiêu năng lượng được tiết kiệm, lượng khí nhà kính giảm được tính theo phương pháp nào và doanh nghiệp tiết kiệm được bao nhiêu chi phí.

Đó cũng là ranh giới giữa một dự án xanh thực chất và nguy cơ “tô xanh” bằng tên gọi.

Theo bà Nguyễn Thị Bích Dung, Phó Trưởng ban Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, khu công nghiệp trong giai đoạn mới không chỉ cung cấp đất sản xuất mà phải cung cấp “chất lượng xanh” của hạ tầng.

Bà cho rằng mục tiêu là tạo một “hộ chiếu xanh” để sản phẩm của nhà đầu tư thuận lợi hơn khi tiếp cận các thị trường yêu cầu tiêu chuẩn Net Zero, ESG và dữ liệu môi trường ngày càng cao.

“Hộ chiếu xanh” ở đây không phải một tấm chứng nhận đơn lẻ. Nó được hình thành từ nguồn năng lượng mà nhà máy sử dụng, hiệu suất tài nguyên, khả năng truy xuất nguyên liệu, mức phát thải của sản phẩm, chất lượng xử lý nước – chất thải và độ minh bạch của hệ thống quản trị.

Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, những yếu tố này đang chuyển từ lợi thế tự nguyện thành điều kiện tiếp cận thị trường. Một sản phẩm có giá thành thấp nhưng không chứng minh được dấu chân carbon hoặc trách nhiệm môi trường của chuỗi cung ứng có thể mất lợi thế trước các yêu cầu thương mại mới.

Đây cũng là lý do khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được Nghị quyết số 08-NQ/TU xác định là động lực then chốt.

Cảm biến có thể theo dõi điện, nước và vật liệu theo thời gian thực. Hệ thống quản trị số giúp nhận diện công đoạn tiêu hao bất thường. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ tối ưu dây chuyền, giảm phế phẩm và dự báo nhu cầu. Một nền tảng dữ liệu dùng chung có thể giúp doanh nghiệp đang phát sinh phụ phẩm tìm được đơn vị có nhu cầu sử dụng.

Nếu thiếu dữ liệu, cộng sinh công nghiệp chủ yếu dựa vào quan hệ riêng giữa một vài doanh nghiệp. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối, chất thải mới có thể trở thành nguyên liệu thứ cấp được giao dịch ổn định trên thị trường.

Nhưng chính dữ liệu hiện là một trong ba rào cản lớn được đề tài khoa học chỉ ra. Doanh nghiệp có thể chưa biết phải thu thập thông tin gì, dùng phương pháp nào, chia sẻ đến đâu và ai có trách nhiệm xác minh. Hệ thống pháp luật đối với một số loại phụ phẩm, chất thải và nguyên liệu thứ cấp còn cần tiếp tục hoàn thiện; còn tài chính vẫn là trở ngại lớn với doanh nghiệp nhỏ.

Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 08-NQ/TU vì vậy không chỉ đưa ra yêu cầu chuyển đổi, mà còn đặt vấn đề hỗ trợ tài chính cho công nghệ xanh, sản xuất sạch hơn, năng lượng tái tạo và kinh tế tuần hoàn; tăng cường các công cụ tài chính xanh và mua sắm công xanh. Tuy nhiên, không nên phân bổ theo tên gọi của dự án. Nguồn vốn cần gắn với kết quả có thể đo được: mức tiết kiệm năng lượng, tỷ lệ tài nguyên tái sử dụng, lượng phát thải giảm, khả năng nhân rộng và giá trị kinh tế tạo ra.

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hải Phòng - ông Trần Văn Thắng cho rằng Hải Phòng cần chuyển từ thu hút đầu tư bằng mọi giá sang lựa chọn các dự án có công nghệ, quản trị, đổi mới sáng tạo, tiêu chuẩn xanh và khả năng kéo doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi giá trị.

Điều này đặc biệt cần thiết trong kinh tế tuần hoàn. Nếu chỉ các tập đoàn FDI lớn có đủ vốn và công nghệ để chuyển đổi, trong khi doanh nghiệp trong nước đứng ngoài, thành phố khó hình thành một hệ sinh thái tuần hoàn hoàn chỉnh.

Doanh nghiệp nhỏ cần được tham gia vào các chuỗi thu gom, tái chế, sửa chữa, logistics ngược, cung cấp nguyên liệu thứ cấp và công nghệ môi trường. Họ cũng cần được hỗ trợ về kiểm kê khí nhà kính, tiêu chuẩn sản phẩm, tín dụng và kết nối với doanh nghiệp lớn.

Kinh tế tuần hoàn chỉ thực sự trở thành động lực khi giúp doanh nghiệp giảm chi phí, hạn chế phụ thuộc vào nguyên liệu mới, đáp ứng tiêu chuẩn thị trường và tạo thêm giá trị từ những nguồn lực từng bị bỏ đi.

Khi chất thải được công nhận là tài nguyên, dữ liệu môi trường trở thành tài sản quản trị, và hạ tầng xanh trở thành thỏi nam châm thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao – đó chính là lúc Hải Phòng thiết lập nên năng lực cạnh tranh thế hệ mới trong kỷ nguyên kinh tế xanh.

Tuy nhiên, hành trình từ một mô hình khoa học đúng đắn đến một hệ thống vận hành thực tiễn hiệu quả vẫn còn khoảng cách lớn. Khoảng cách ấy không chỉ được quyết định bởi tiềm lực tài chính hay trình độ công nghệ, mà trước hết phụ thuộc vào năng lực tổ chức thực hiện, sự minh bạch trong đo lường và quyết tâm hành động đồng bộ của chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp cùng toàn thể xã hội.

Với nền tảng hạ tầng công nghiệp bứt phá, tư duy quản trị mở và chiến lược chuyển đổi xanh bài bản, Hải Phòng đang đứng trước cơ hội lớn để khẳng định vị thế trung tâm kinh tế biển hiện đại, sinh thái và bền vững hàng đầu của cả nước.

Mời bạn đọc, đón đọc, theo dõi kỳ 3:Từ nghị quyết đến hành động – phép thử ở năng lực thực thi: Đối diện với sức tải sinh thái tại Cát Bà, bài toán phân bổ nguồn lực 256.000 tỷ đồng, nguyên tắc '6 rõ' và giải pháp hóa giải 3 điểm nghẽn thể chế - hạ tầng - nhân lực.

Huy Tưởng – Lan Chi

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/chuyen-doi-xanh-o-hai-phong-kinh-te-tuan-hoan-dong-luc-tao-dung-loi-the-canh-tranh-moi-117456.html