Chuyển đổi xanh tại các làng nghề - xu thế tất yếu
“Xanh hóa” làng nghề không chỉ là yêu cầu cấp thiết, mà đang trở thành xu thế tất yếu trong quá trình phát triển bền vững. Tại Hà Nội, nhận thức của các hộ sản xuất, kinh doanh ngày càng chuyển biến tích cực, cùng với sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại, đang tạo thêm động lực để tiến trình chuyển đổi xanh tại các làng nghề được đẩy mạnh và đi vào thực chất.

Sản xuất lụa tại làng nghề Vạn Phúc (phường Hà Đông). Ảnh: Khánh Huy
Thúc đẩy “xanh hóa” làng nghề
Những ngày đầu tháng 9-2026, dòng kênh La Khê, nơi dẫn nước từ sông Nhuệ ra sông Đáy (đoạn qua địa phận phường Dương Nội) vẫn chưa hết màu đen đặc trưng. Tuy nhiên, theo những người dân địa phương, nguồn nước của dòng kênh này đã bớt ô nhiễm rất nhiều so với trước kia sau khi các cơ sở dệt nhuộm bị chính quyền địa phương xử phạt. Trước đó, sau khi kiểm tra, rà soát, UBND phường Dương Nội đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với 6 cơ sở dệt nhuộm với tổng số tiền gần 5 tỷ đồng; 2 cơ sở dệt nhuộm khác bị UBND phường ban hành quyết định dừng hoạt động dệt nhuộm, xả thải.
Cùng với việc quy hoạch hệ thống thu gom, thoát nước thải sinh hoạt, nhiều làng nghề, cụm công nghiệp làng nghề dọc sông Nhuệ dự kiến sẽ phải chấm dứt hoạt động nếu không bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất. Thời gian tới, ngoài các cơ sở dệt, nhuộm gây ô nhiễm nêu trên, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh trong làng nghề, cụm công nghiệp này cũng phải chấm dứt tình trạng xả thải gây ô nhiễm môi trường. Đây là yêu cầu bắt buộc trong quá trình “xanh hóa” các làng nghề trên địa bàn Thủ đô.
Hà Nội hiện có khoảng 1.350 làng nghề và làng có nghề, tạo việc làm, sinh kế cho hàng trăm nghìn lao động, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, sản xuất nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu và tình trạng ô nhiễm môi trường đang đặt nhiều làng nghề trước yêu cầu phải thay đổi. Có thể kể đến làng nghề gốm Bát Tràng, nơi đằng sau những sản phẩm nổi tiếng là một bài toán không nhỏ về bảo vệ môi trường. Có thời điểm, làng nghề tiêu thụ khoảng 800 tấn than/ngày, phát sinh các loại khí CO, SO2, H2S, bụi silic cùng chất thải rắn. Tuy nhiên, việc từng bước thay thế lò than bằng công nghệ nung gas và điện thời gian gần đây đã tạo chuyển biến đáng kể, góp phần thay đổi phương thức sản xuất theo hướng sạch và thân thiện hơn với môi trường.
Hay như tại làng nghề sơn mài Bối Khê, xã Chuyên Mỹ, nơi có hơn 170 hộ dân gắn bó với nghề truyền thống. Xác định chuyển đổi xanh là xu hướng tất yếu, những hộ dân nơi đây đã đẩy mạnh cải thiện môi trường, chỉnh trang cảnh quan, tu bổ kiến trúc truyền thống và đẩy mạnh phát triển du lịch trải nghiệm gắn với sản xuất sạch. Chị Đinh Thị Hương (người dân làng nghề Bối Khê) cho biết: “Từ ngày đầu tư máy móc, hệ thống nước, chúng tôi yên tâm làm nghề, bụi bặm giảm rõ rệt và mùi hóa chất khi phun thiếc cũng không còn nữa”.
Không chỉ là đầu tư hệ thống xử lý nước thải, khí thải
Câu chuyện ở các làng nghề Bát Tràng và Bối Khê cho thấy, chuyển đổi xanh không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng hình ảnh làng nghề thân thiện, an toàn - nền tảng quan trọng để phát triển bền vững trong giai đoạn mới. Khi công nghệ thay đổi, lượng nhiên liệu sử dụng và tỷ lệ phế phẩm giảm, chất lượng sản phẩm được kiểm soát tốt hơn, tác động tích cực tới hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường, thành phố hiện có 337 làng nghề, làng nghề truyền thống và nghề truyền thống được công nhận. Mỗi năm, làng nghề Bát Tràng đạt doanh thu khoảng 2.000-3.000 tỷ đồng/năm. Con số này của làng nghề Sơn Đồng là gần 700 tỷ đồng; làng nghề Kim Lan 500-700 tỷ đồng; làng nghề Vạn Điểm gần 400 tỷ đồng... Doanh thu của các làng nghề trong năm 2025 đạt trên 25.000 tỷ đồng. Sự tăng trưởng mạnh về giá trị kinh tế cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xanh hóa làng nghề để phát triển bền vững...
Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam Nguyễn Như Chinh thông tin, hiện đa số làng nghề vẫn duy trì phương thức sản xuất quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ, phân tán đi kèm với những hạn chế về vốn, mặt bằng và công nghệ. Trong khi đó, các tiêu chuẩn môi trường quốc tế ngày càng khắt khe. Chính vì thế, chuyển đổi xanh không thể là nỗ lực đơn lẻ của từng làng nghề, mà còn cần có sự hỗ trợ đồng bộ từ Nhà nước, nhất là về chính sách, vốn, hạ tầng môi trường, phát triển vùng nguyên liệu bền vững, xúc tiến thương mại...
Các chuyên gia cho rằng, “xanh hóa” làng nghề cần được nhìn nhận rộng hơn, không chỉ dừng ở việc đầu tư hệ thống xử lý nước thải, khí thải. Đó là quá trình thay đổi từ lựa chọn nguyên liệu, sử dụng năng lượng, thiết kế và tổ chức sản xuất, tận dụng phế phụ phẩm đến đóng gói, phân phối và tiêu thụ sản phẩm. Cùng với đó, sự phát triển của du lịch làng nghề cũng tạo động lực để các cơ sở sản xuất chú trọng hơn đến việc xây dựng không gian sản xuất sạch sẽ, an toàn và thân thiện với du khách. Như vậy, môi trường không còn là vấn đề đứng ngoài câu chuyện xây dựng thương hiệu làng nghề, mà ngày càng trở thành một phần của giá trị thương hiệu, góp phần tạo giá trị gia tăng, nâng sức hấp dẫn của sản phẩm với người tiêu dùng, du khách.
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/chuyen-doi-xanh-tai-cac-lang-nghe-xu-the-tat-yeu-1757344.html
