Chuyên gia dịch tễ nói gì về virus Nipal và nguy cơ của bệnh truyền nhiễm nhóm A này?
Trước thông tin virus Nipah - một bệnh truyền nhiễm với tỷ lệ chết/ mắc cao xuất hiện trở lại tại một số quốc gia, PGS.TS Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế nhấn mạnh: Người dân không nên chủ quan nhưng cũng không hoang mang, cần hiểu đúng nguy cơ để thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh...
Phóng viên báo Sức khỏe và Đời sống đã trao đổi với PGS.TS Trần Đắc Phu về những thông tin liên quan đến virus Nipah.

PGS.TS Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế nhấn mạnh: Người dân không nên chủ quan nhưng cũng không hoang mang, cần hiểu đúng nguy cơ để thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh do virus Nipah...
Tỷ lệ chết/ mắc ở các trường hợp nhập viện do nhiễm virus Nipah khoảng 40-75%
- Vì sao virus Nipah được xếp vào nhóm tác nhân truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, thưa ông?
PGS.TS Trần Đắc Phu: Virus Nipah là tác nhân truyền nhiễm nguy hiểm, có tỉ lệ tử vong cao, cần được giám sát chặt chẽ. Virus này lần đầu tiên được ghi nhận trong đợt dịch tại Malaysia năm 1998, sau đó xuất hiện rải rác ở một số quốc gia Nam Á và Đông Nam Á, trong đó có Ấn Độ.
Virus Nipah là bệnh lây truyền từ động vật sang người. Virus này cũng có khả năng lây từ người sang người, đặc biệt trong quá trình chăm sóc, điều trị, nếu không bảo đảm kiểm soát nhiễm khuẩn.
Các đợt dịch trước đây đều ghi nhận số ca không lớn nhưng bệnh cảnh thường nặng. Tỷ lệ chết/ mắc ở các trường hợp nhập viện khoảng 40-75%. Hiện bệnh chưa có vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu cho cả người và động vật.
Người mắc virus Nipah có thể khởi phát với sốt, đau đầu, đau cơ, sau đó diễn tiến nhanh sang suy hô hấp, viêm não cấp và tử vong.
- Theo ông, việc lây nhiễm virus Nipah trong cơ sở y tế xảy ra tại Ấn Độ cho thấy nguy cơ gì?
PGS.TS Trần Đắc Phu: Ấn Độ không phải lần đầu ghi nhận ca nhiễm Nipah, song điểm đáng lo ngại của đợt dịch lần này là lây nhiễm trong khu vực y tế.
Bệnh đã lây sang nhân viên y tế trong quá trình chăm sóc bệnh nhân, cho thấy nguy cơ lây truyền trong môi trường điều trị nếu không kiểm soát tốt, trong khi mức độ nguy hiểm và tỉ lệ tử vong của bệnh vẫn rất cao.
Một số đợt dịch tại Ấn Độ cũng đã từng ghi nhận ca lây nhiễm trong nhân viên y tế. Điều này cho thấy, nếu chủ quan thì nguy cơ lây truyền trong môi trường bệnh viện là tất yếu.
Nguy cơ lây truyền virus Nipah thế nào, phòng ngừa ra sao?
- Vậy ông đánh giá như thế nào về nguy cơ lây truyền virus Nipahở Việt Nam?
PGS.TS Trần Đắc Phu: Về nguy cơ virus Nipah xâm nhập Việt Nam tôi cho rằng cần đặc biệt lưu ý hai yếu tố.
Thứ nhất, là nguy cơ xâm nhập từ bên ngoài thông qua người đi về từ vùng đang có dịch, không chỉ riêng Ấn Độ mà cả những quốc gia từng ghi nhận virus Nipah lưu hành.
Thứ hai, Việt Nam nằm trong khu vực Nam Á và Đông Nam Á, nơi có sự phân bố của các loài dơi ăn quả - ổ chứa tự nhiên của virus. Dù đến nay chưa ghi nhận ca bệnh nào, nhưng về mặt dịch tễ học, vẫn cần giám sát nguy cơ virus lưu hành trong quần thể động vật, đặc biệt là dơi và có thể là lợn - vật chủ trung gian có thể làm tăng nguy cơ lây sang người.
Đây là bệnh lây truyền từ động vật sang người, nên công tác giám sát phải được thực hiện đồng thời trên cả người và động vật và tất nhiên căn cứ vào sự xuất hiện yếu tố dịch tễ để thực hiện các biện pháp giám sát phù hợp. Chúng ta không chủ quan, nhưng cũng không nên quá lo lắng.
Bệnh do virus Nipah sẽ không có nguy cơ bùng dịch lớn tại Việt Nam nếu chúng ta thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa.

Hầu hết các trường hợp nhiễm bệnh do virus Nilpal ở người trong đợt dịch này đều do tiếp xúc trực tiếp với lợn bệnh hoặc thịt bị nhiễm bệnh của chúng.
- Như ông vừa nói, bệnh do virus Nilpal cũng có thể lây từ động vật sang người. Xin ông chia sẻ rõ hơn?
PGS Trần Đắc Phu: Nói có nguy cơ lây từ lợn sang người là do Virus Nipah được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1998 trong một đợt bùng phát dịch bệnh ở các hộ chăn nuôi lợn tại Malaysia, cũng ảnh hưởng đến Singapore.
Hầu hết các trường hợp nhiễm bệnh ở người trong đợt dịch này đều do tiếp xúc trực tiếp với lợn bệnh hoặc thịt bị nhiễm bệnh của chúng. Không có đợt bùng phát dịch mới nào được báo cáo ở Malaysia cho đến nay. Còn về cơ bản các ổ dịch xảy ra tiếp theo tại các nước Nam Á và Đông Nam Á vật chủ chính vẫn là dơi.
Tuy nhiên, việc thực hiện tốt vệ sinh chăn nuôi và giết mổ và thực hiện an toàn thực phẩm như ăn chín, rửa tay với xà phòng vẫn là điều rất cần thiết, tránh tâm lý hoang mang không đúng ảnh hưởng tới việc cung cầu thịt lợn trong dịp Tết Nguyên Đán này.
- Vậy, ông khuyến cáo gì về các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh này?
PGS.TS Trần Đắc Phu: Để chủ động phòng chống bệnh do virus Nipal, người dân nên hạn chế đến khu vực đang có dịch nếu không thực sự cần thiết; tự theo dõi sức khỏe trong vòng 14 ngày sau khi về từ vùng dịch.
Khi xuất hiện các triệu chứng như sốt, đau đầu, đau cơ, nôn mửa, đau họng, chóng mặt, buồn ngủ hoặc rối loạn ý thức, cần đến ngay cơ sở y tế để được xét nghiệm xác định chẩn đoán chính xác, hạn chế tiếp xúc với người khác và thông báo rõ tiền sử dịch tễ.
Đối với những bệnh nhân nhập viện trong nước, không có yếu tố đi từ vùng dịch về nhưng có triệu chứng nghi ngờ, cũng cần được đưa vào diện giám sát.
Người dân cũng cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa thông thường như ăn chín, uống sôi; rửa tay với xà phòng; rửa sạch, gọt vỏ trái cây trước khi ăn; không sử dụng thực phẩm có dấu hiệu bị động vật như dơi, chim cắn hoặc gặm nhấm; hạn chế tiếp xúc với động vật có nguy cơ cao; bảo đảm vệ sinh trong chăn nuôi, giết mổ.
Những biện pháp này không chỉ giúp phòng virus Nipah mà còn góp phần giảm nguy cơ nhiều bệnh truyền nhiễm khác. Hiện tại, vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và vắc xin phòng bệnh do virus Nipal.
- Trân trọng cảm ơn PGS.TS Trần Đắc Phu!
Như Sức khỏe và Đời sống đã đưa tin, theo Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế), bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm nhóm A (Theo quyết định số 3644/QĐ-BYT ngày 25/11/2025 về việc bổ sung một số bệnh vào danh mục bệnh truyền nhiễm nhóm A, B của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm), virus này lây truyền chủ yếu từ động vật sang người (tại Ấn Độ hiện nay truyền qua loài dơi ăn quả), hoặc tiếp xúc với vật phẩm, thực phẩm bị nhiễm virus và cũng có thể lây truyền từ người sang người (qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết, dịch bài tiết của bệnh nhân).
Thời gian ủ bệnh trong khoảng 4-14 ngày, người nhiễm virus có thể có các triệu chứng: đau đầu, đau cơ, nôn mửa và đau họng, sau đó có thể xuất hiện chóng mặt, buồn ngủ, rối loạn ý thức và các dấu hiệu thần kinh cho thấy viêm não cấp tính.
Đến ngày 26/1, Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh do virus Nipah. Bộ Y tế đã chỉ đạo các địa phương tăng cường công tác giám sát, phòng chống dịch bệnh ngay từ các cửa khẩu, cơ sở y tế và cộng đồng, sẵn sàng các biện pháp đáp ứng, phòng chống dịch.
Bộ Y tế khẳng định sẽ tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh, phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới, các quốc gia trên thế giới để kịp thời chỉ đạo triển khai các biện pháp phòng, chống dịch phù hợp, hiệu quả.











