Chuyên gia giáo dục: Bỏ cộng điểm IELTS là công bằng, lộ trình áp dụng năm 2027 là hợp lý

TS Hoàng Ngọc Vinh - Nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp cho rằng, lộ trình áp dụng từ năm 2027 là hoàn toàn hợp lý. Việc bãi bỏ điểm cộng IELTS hoàn toàn không làm suy giảm giá trị của tiếng Anh. Ngược lại, chính sách này đang nắn chỉnh lại động cơ giáo dục, đưa việc dạy và học ngoại ngữ về đúng với sứ mệnh cốt lõi: Học để sử dụng và phát triển bản thân, thay vì học chỉ để đối phó với các kỳ thi.

Bất cập từ thực tiễn tuyển sinh

Theo Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số quy định tuyển sinh do Bộ GD - ĐT công bố, từ năm 2027, thí sinh sẽ không còn được cộng tối đa 3 điểm từ các loại chứng chỉ quốc tế hay giải học sinh giỏi. Thay vào đó, hệ thống chỉ duy trì điểm ưu tiên theo khu vực và đối tượng chính sách. Các trường đại học không được sử dụng điểm cộng do mình tự quy định cho các tiêu chí bổ sung.

Nhìn lại các kỳ tuyển sinh trước, ngoài điểm ưu tiên khu vực và đối tượng, thí sinh có thể nhận tới 3 loại điểm cộng do các trường quy định, tối đa lên tới 3/30 điểm. Hệ quả là, dù cả nước chỉ có 5 thủ khoa đạt 30/30 điểm tổ hợp ba môn thi tốt nghiệp THPT, các trường vẫn ghi nhận hàng trăm thí sinh có điểm xét tuyển tuyệt đối, thậm chí vượt khung 30 điểm.

Thí sinh tại kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026.

Thí sinh tại kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026.

Tại phiên giải trình của Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội sáng 20/9, Bộ trưởng GD - ĐT Hoàng Minh Sơn khẳng định, đề xuất bỏ điểm cộng dựa trên phân tích dữ liệu rõ ràng. Theo Bộ trưởng, nếu một ngành yêu cầu năng lực ngoại ngữ, trường cần đưa tiếng Anh vào tổ hợp xét tuyển. Việc xét tuyển bằng các môn học khác (như Toán, Hóa, Sinh) rồi lại cộng thêm điểm chứng chỉ tiếng Anh là điều bất hợp lý, khiến một năng lực bị tính hai lần.

Bộ trưởng dẫn chứng một thực tế: Tại những ngành có điểm chuẩn rất cao (lên đến 28 điểm), việc cộng điểm chênh lệch tới 1,5 điểm chứng chỉ khiến hàng ngàn thí sinh đạt điểm thi xuất sắc (26,5 - 28 điểm) vẫn ngậm ngùi trượt đại học. Nguyên nhân cốt lõi chỉ vì các em không có điều kiện kinh tế để tham gia các kỳ thi lấy chứng chỉ đắt tiền.

Trả kỳ thi về đúng "bản sắc" ngành học

Đồng tình với chủ trương của Bộ GD - ĐT TS Hoàng Ngọc Vinh - Nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp đánh giá, cách lý giải của Bộ là hoàn toàn hợp lý. Theo ông, mỗi ngành học đều mang một "bản sắc" riêng, đòi hỏi những kiến thức nền tảng tương ứng từ bậc phổ thông. Việc tuyển sinh cần diễn ra trên một mặt bằng chung, nơi tổ hợp ba môn thi phản ánh đúng năng lực cần thiết để theo học chuyên ngành đó.

TS Hoàng Ngọc Vinh cũng chỉ ra sự bất hợp lý trong việc quy đổi điểm chứng chỉ ngoại ngữ sang các môn xét tuyển khác. Ông phân tích: "Môn Toán cũng là một môn công cụ nền tảng rất quan trọng, nhưng những ngành đòi hỏi tư duy Toán học lại không hề có quy định cộng điểm Toán". Do đó, năng lực tiếng Anh không phải là thước đo duy nhất để đảm bảo kết quả học tập chuyên môn.

Nhìn nhận về những phản ứng trái chiều hiện nay, TS Hoàng Ngọc Vinh cho rằng, việc cộng điểm đã tồn tại từ lâu, vô hình trung tạo thành một "thói quen" trong quản lý tuyển sinh, tương tự như việc cộng điểm học nghề trong kỳ thi tốt nghiệp trước đây. Khi thói quen này bị thay đổi, việc một bộ phận phụ huynh và học sinh cảm thấy "sốc" là điều dễ hiểu.

Tuy nhiên, nếu tiếp tục duy trì quy định này, hệ thống giáo dục đang tự tạo ra sự bất bình đẳng. TS Hoàng Ngọc Vinh nhấn mạnh thực trạng: "Rất nhiều học sinh ở vùng sâu, vùng xa, gia đình không có điều kiện tài chính sở hữu năng lực học tập xuất sắc ở các môn như Toán, Lý, Hóa. Thế nhưng, các em lại bị gạt ra khỏi cánh cửa đại học mơ ước chỉ vì thiếu 1,5 điểm cộng chứng chỉ tiếng Anh đắt đỏ. Việc bãi bỏ điểm cộng chính là giải pháp cấp thiết để trả lại sự công bằng và bình đẳng cơ hội cho mọi thí sinh, bất kể điều kiện kinh tế".

Lộ trình có vội không?

Nhìn nhận từ thực tế, việc nhiều phụ huynh lên tiếng lo ngại do đã đầu tư không ít thời gian và chi phí cho con em ôn luyện lấy chứng chỉ phần nào phản ánh thực trạng xã hội vẫn còn nặng tâm lý "học vì thi". Do đó, khi quy chế thi cử hay phương thức xét tuyển thay đổi, dễ xuất hiện các phản ứng trái chiều.

Trao đổi với phóng viên về vấn đề này, TS Hoàng Ngọc Vinh cho rằng, thực trạng trên cho thấy mục đích và động cơ học ngoại ngữ đang dần chệch hướng. Thay vì học để trau dồi kiến thức và phát triển năng lực bản thân, việc học ngoại ngữ lại đang bị đặt nặng mục tiêu đối phó, chủ yếu để phục vụ cho các kỳ thi.

Trước những ý kiến lo ngại lộ trình áp dụng từ năm 2027 là quá gấp gáp, TS Hoàng Ngọc Vinh cho rằng, thời gian chuẩn bị như vậy là hoàn toàn hợp lý.

TS Hoàng Ngọc Vinh đánh giá lộ trình áp dụng từ 2027 là hợp lý.

TS Hoàng Ngọc Vinh đánh giá lộ trình áp dụng từ 2027 là hợp lý.

Ông lý giải: "Học ngoại ngữ là quá trình tích lũy năng lực vào trong chính bản thân người học. Năng lực đó sẽ là hành trang đi theo các em suốt quá trình học đại học và cả khi ra trường đi làm". Sự hụt hẫng hay cảm giác "thiệt thòi" chỉ xuất hiện khi mục tiêu học tiếng Anh bị lệch, thuần túy coi đó là một khoản đầu tư để đổi lấy điểm cộng cạnh tranh.

Trên thực tế, những thí sinh có năng lực ngoại ngữ thực chất vẫn nắm giữ ưu thế rất lớn. Thay vì nhận điểm cộng lúc xét tuyển, khi trúng tuyển vào đại học, sinh viên sở hữu chứng chỉ quốc tế thường được nhiều trường miễn các học phần tiếng Anh cơ bản. Điều này không chỉ giúp gia đình tiết kiệm học phí mà còn tạo ra quỹ thời gian quý báu để sinh viên tập trung học tập, nghiên cứu, rút ngắn chương trình học.

Việc bãi bỏ điểm cộng IELTS hoàn toàn không làm suy giảm giá trị của tiếng Anh. Ngược lại, chính sách này đang nắn chỉnh lại động cơ giáo dục, đưa việc dạy và học ngoại ngữ về đúng với sứ mệnh cốt lõi: Học để sử dụng và phát triển bản thân, thay vì học chỉ để đối phó với các kỳ thi.

Dữ liệu tuyển sinh năm 2026 cho thấy hơn 37.300 thí sinh sử dụng chứng chỉ tiếng Anh để được cộng điểm (trên 35.900 thí sinh dùng IELTS). Riêng mức IELTS 6.0 phổ biến nhất với 8.318 thí sinh nhưng lại được các trường quy định thành 26 mức điểm cộng khác nhau. Ở nhóm ngành thuộc tốp 5% điểm chuẩn cao, hơn 30% người nhập học có điểm cộng; tỷ lệ này ở nhóm ngoài tốp 25% chỉ là 9,51%. Đặc biệt, trong ba phương thức không có cấu phần ngoại ngữ riêng, có tới 51,42% thí sinh có điểm cộng sở hữu điểm gốc thấp hơn mức trúng tuyển của ngành.

Lê Vượng

Nguồn SVVN: https://svvn.tienphong.vn/chuyen-gia-giao-duc-bo-cong-diem-ielts-la-cong-bang-lo-trinh-ap-dung-nam-2027-la-hop-ly-post1878181.tpo