Dạy AI từ lớp 1, làm sao để học sinh không phụ thuộc công nghệ?

Trí tuệ nhân tạo (AI) được đưa vào giáo dục từ lớp 1 đặt ra yêu cầu không chỉ giúp học sinh làm quen với công nghệ mà còn rèn tư duy độc lập, khả năng kiểm chứng thông tin và sử dụng công cụ có trách nhiệm.

Hơn 98% giáo viên được tập huấn AI

Theo kế hoạch của Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Hà Nội, từ năm học 2026-2027, nội dung giáo dục AI được triển khai tại các trường phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên, từ lớp 1 đến lớp 12. Nội dung này không hình thành môn học riêng, không kiểm tra, chấm điểm hay lập sổ điểm mới.

Phát triển năng lực công nghệ cho học sinh là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.

Phát triển năng lực công nghệ cho học sinh là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.

Kết quả thí điểm cho thấy, Hà Nội đã có hơn 1.700 cơ sở giáo dục với gần 1,7 triệu học sinh, học viên được tiếp cận nội dung giáo dục AI. Gần 80.000 lượt cán bộ quản lý, giáo viên được tập huấn, đạt hơn 98,2%.

Mức độ hứng thú của học sinh với nội dung giáo dục AI bình quân khoảng 4/5 điểm, riêng cấp THCS đạt 4,26 điểm. Kết quả thí điểm cho thấy giáo dục AI có thể triển khai trong thực tế, đồng thời đặt ra yêu cầu chuẩn hóa nội dung, bảo đảm thực hiện đồng đều và bền vững.

Giám đốc Sở GD&ĐT Hà Nội Nguyễn Văn Hiền cho biết, Hà Nội đã thí điểm giáo dục AI từ năm học 2025-2026 và sẽ thực hiện trên toàn ngành từ năm học 2026-2027.

Ông Hiền cho rằng, giáo dục AI không chỉ dừng ở việc hướng dẫn học sinh sử dụng các công cụ AI tạo sinh, mà trước hết giúp các em nhận thức đúng về công nghệ, biết sử dụng, đánh giá và từng bước thiết kế công nghệ. Quá trình này cần được triển khai khoa học, bài bản, chú trọng giáo dục đạo đức, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư của người học.

Hà Nội áp dụng giáo dục AI tại 100% cơ sở giáo dục, với 12 tiết cốt lõi cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 12, gồm bốn mạch năng lực, ba hình thức và ba tầng triển khai. Nội dung không phát sinh chi phí bắt buộc.

Các trường thực hiện theo 5 bước: hoàn thiện kế hoạch và bố trí đủ 12 tiết; xác định, bồi dưỡng giáo viên; chuẩn bị bài dạy, học liệu; tổ chức dạy học an toàn, phù hợp điều kiện thực tế; đánh giá và lưu minh chứng gọn nhẹ. Giáo viên Tin học giữ vai trò nòng cốt; giáo viên các môn khác đã được bồi dưỡng có thể tham gia theo yêu cầu.

Giáo viên được bồi dưỡng theo ba mức: 8 tiết phổ cập; tối thiểu 24 tiết cho giáo viên dạy chuyên đề và 40 tiết cho giáo viên cốt cán.

Sở GD&ĐT Hà Nội lưu ý các trường rà soát công cụ trước khi sử dụng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư của học sinh. Các trường không đưa dữ liệu cá nhân, hình ảnh, giọng nói của học sinh lên nền tảng chưa được rà soát; không yêu cầu học sinh mua tài khoản, phần mềm hoặc thiết bị để thực hiện nội dung bắt buộc.

Việc triển khai ưu tiên khai thác hạ tầng sẵn có, phần mềm miễn phí hoặc mã nguồn mở phù hợp, không để thiếu thiết bị trở thành rào cản tiếp cận nội dung cốt lõi.

AI được đưa vào trường học từ sớm nhằm giúp học sinh từng bước hiểu và sử dụng công nghệ. Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội tiếp cận công cụ mới, nhà trường cần chú trọng phát triển tư duy độc lập, khả năng giải quyết vấn đề và nhận diện thông tin không chính xác.

Giáo viên phải hiểu AI để dạy trẻ

Trao đổi với phóng viên Báo Xây dựng, bà Lê Thị Thu Chung, Phó Hiệu trưởng phụ trách khối Tiểu học, Trường TH và THCS Lý Thường Kiệt cho rằng, đưa AI vào giáo dục từ lớp 1 mở ra cơ hội đổi mới, nhưng cũng đặt ra yêu cầu mới về năng lực giáo viên, học liệu, cơ sở vật chất và phương pháp dạy học.

Phụ huynh, học sinh Trường THCS Trưng Vương trong buổi tập huấn sử dụng AI.

Phụ huynh, học sinh Trường THCS Trưng Vương trong buổi tập huấn sử dụng AI.

Bà Chung nhấn mạnh, giáo viên tiểu học không chỉ cần nắm kiến thức cơ bản về AI mà còn phải biết chuyển hóa thành hoạt động phù hợp với đặc điểm tâm lý, nhận thức của từng độ tuổi. Quan trọng hơn, giáo viên cần tổ chức để học sinh bước đầu hiểu AI, biết đặt câu hỏi, quan sát, trải nghiệm và hình thành tư duy phản biện.

Học liệu cho học sinh lớp 1 cần trực quan, ngắn gọn, gần gũi và giàu tính trải nghiệm. Các em có thể được hướng dẫn nhận biết thông tin do AI tạo ra, đối chiếu với thực tế và trao đổi với giáo viên khi gặp nội dung chưa rõ.

Về cơ sở vật chất, bà Chung cho rằng không có phòng máy chuyên dụng không đồng nghĩa với việc không thể tổ chức giáo dục AI. Nhà trường có thể sử dụng tranh ảnh, thẻ học tập, trò chơi, trình chiếu và thiết bị dùng chung phù hợp với mục tiêu bài học.

Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng trải nghiệm, trường vẫn cần từng bước bảo đảm thiết bị, đường truyền Internet và khai thác hiệu quả các nguồn lực hiện có.

"Với học sinh lớp 1, chúng tôi không đặt mục tiêu tạo ra những học sinh biết sử dụng AI thật sớm, mà hướng tới giúp các em có nền tảng tư duy, khả năng tự học và bản lĩnh để sau này sử dụng AI một cách chủ động mà không đánh mất khả năng tự suy nghĩ", bà Chung chia sẻ.

Ở góc độ giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 1, cô Hoàng Kim Ngân, giáo viên Trường Tiểu học Thăng Long (phường Hoàn Kiếm), cho biết học sinh ở độ tuổi này thường tò mò, thích thú khi thấy máy tính có thể trả lời câu hỏi hoặc tạo hình ảnh.

Tuy nhiên, khả năng đọc của các em còn hạn chế, nhiều em chưa thể tự đọc yêu cầu dài hoặc thao tác độc lập trên thiết bị. Trẻ cũng có xu hướng tin vào câu trả lời của máy và chưa biết phân biệt thông tin đúng, sai. Vì vậy, giáo viên phải đọc, giải thích yêu cầu và cùng học sinh kiểm tra thông tin.

Trong các tiết học vần, Toán, giáo viên có thể dùng AI để chuyển nội dung tranh trong bài học thành clip, giúp học sinh dễ hình dung. Với môn Toán, cách minh họa này giúp các em nhận biết tình huống và xác định phép tính cần thực hiện.

Theo cô Ngân, học sinh lớp 1 chưa nên tự sử dụng AI ngay từ đầu. Giáo viên có thể cho các em quan sát hình ảnh hoặc câu trả lời do AI tạo ra, sau đó đặt câu hỏi để học sinh nhận xét và kiểm tra thông tin.

"AI có thể tạo ra hình ảnh, câu trả lời nhưng không phải lúc nào cũng đúng. Với tranh ảnh trong sách giáo khoa, học sinh vẫn có thể quan sát và trả lời nội dung bài học. AI chủ yếu giúp cách thể hiện trực quan hơn, để các em dễ tiếp cận với nội dung", cô Ngân chia sẻ.

Cô Hoàng Xuân, giáo viên Trường THCS Trưng Vương (phường Cửa Nam) cho biết, khi phát hiện học sinh sử dụng AI để làm bài tập môn Ngữ văn, giáo viên có thể kiểm tra khá dễ dàng.

"Thầy cô chỉ cần hỏi thêm một câu liên quan đến vấn đề trong bài viết, nhiều khi học sinh không trả lời được. Giáo viên cũng có thể yêu cầu các em chỉ ra trọng tâm bài viết hoặc làm một bài kiểm tra ngắn để kiểm tra mức độ hiểu bài", cô Xuân nói.

Khi học sinh không thể trả lời hoặc tự làm bài, giáo viên thường nhắc các em cần tự đưa ra suy nghĩ trước khi sử dụng công cụ hỗ trợ. Giáo viên cũng trao đổi với phụ huynh để phối hợp quản lý việc sử dụng công nghệ.

"Hiện nhiều học sinh chưa biết sử dụng AI một cách hiệu quả, chủ yếu dùng để đối phó với bài tập về nhà hoặc giải trí. Các em chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích cũng như những tác động của công cụ này", cô Xuân chia sẻ thêm.

Dưới góc nhìn chuyên gia, PGS.TS Trần Thị Minh Hằng, Học viện Quản lý giáo dục, cho rằng trong giai đoạn đầu, điều quan trọng không phải các trường tổ chức bao nhiêu tiết học có AI hay bao nhiêu học sinh sử dụng công nghệ này. Cần đánh giá AI có giúp giáo viên dạy tốt hơn, học sinh học hiệu quả hơn và quan trọng nhất, các em có tư duy tốt hơn hay ngày càng phụ thuộc vào công nghệ.

Bà Hằng cho rằng mỗi trường cần lựa chọn những nội dung thực sự có giá trị giáo dục, triển khai từ nhỏ đến lớn, từ giáo viên đến học sinh; thí điểm, đánh giá, điều chỉnh trước khi nhân rộng.

Mục tiêu cuối cùng không phải đào tạo những đứa trẻ "giỏi dùng AI", mà giúp học sinh biết tư duy, làm chủ công nghệ và chịu trách nhiệm với cách sử dụng công nghệ.

Phượng Nguyễn

Nguồn Xây Dựng: https://baoxaydung.vn/day-ai-tu-lop-1-lam-sao-de-hoc-sinh-khong-phu-thuoc-cong-nghe-192260918162830521.htm