Chuyên gia lý giải vai trò của chứng khoán khi Việt Nam cần hàng triệu tỷ đồng đầu tư và nền tảng để vốn ngoại trở lại ngay năm 2026
Trước áp lực nhu cầu vốn ngày càng lớn, thị trường chứng khoán được kỳ vọng sẽ giữ vai trò kênh dẫn vốn trung – dài hạn chủ lực, giảm dần sự lệ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Ông Trần Thăng Long, Giám đốc Phân tích Chứng khoán BIDV (BSC), đã đưa ra góc nhìn về dư địa phát triển của thị trường Việt Nam, những nút thắt của dòng vốn ngoại và các động lực có thể tạo bước chuyển cho thị trường thời gian tới.
PV: Đất nước đang trong một kỷ nguyên mới, nhu cầu vốn là rất lớn, từ phát triển hạ tầng ở cấp độ quốc gia cho đến phát triển kinh doanh ở quy mô doanh nghiệp. Theo ông, vị thế của kênh dẫn vốn chứng khoán thời gian tới thế nào?
Ông Trần Thăng Long, Giám đốc Phân tích Chứng khoán BIDV (BSC): Nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải tái cân bằng cấu trúc vốn. Trong nhiều năm qua, hệ thống ngân hàng đã phải gánh vác đồng thời nhiều vai trò vừa cung ứng vốn ngắn hạn cho sản xuất kinh doanh, vừa tài trợ cho các dự án đầu tư dài hạn của nền kinh tế.
Việc lệ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng kéo dài đã làm gia tăng rủi ro lệch pha kỳ hạn tín dụng và tích tụ áp lực lên ổn định vĩ mô. Với tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP hiện đã tiệm cận mức rất cao, quanh 146%, dư địa để tiếp tục mở rộng tín dụng không còn nhiều và cần được kiểm soát chặt chẽ hơn trong giai đoạn tới.
Nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế trong giai đoạn mới là rất lớn. Hàng loạt dự án hạ tầng chiến lược đang được triển khai hoặc chuẩn bị triển khai, như Đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam với tổng mức đầu tư ước tính khoảng 1,7 triệu tỷ đồng, hay nhu cầu vốn khổng lồ cho Quy hoạch Điện VIII.
Theo các kế hoạch tài khóa trung hạn, tổng vốn đầu tư công trong 5 năm tới có thể lên tới hơn 8,3 triệu tỷ đồng, trong đó Chính phủ dự kiến phải huy động khoảng 6,5 triệu tỷ đồng vốn vay, chủ yếu từ thị trường trong nước. Điều này cho thấy áp lực huy động vốn không thể tiếp tục dồn lên khu vực ngân hàng, mà cần được san sẻ mạnh mẽ sang thị trường vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán và trái phiếu.

PV: Kinh nghiệm từ những đất nước đi trước, thị trường chứng khoán (TTCK) sẽ biến động ra sao khi nhu cầu vốn trong nước được đẩy lên rất cao và liệu Việt Nam có đi theo hướng như vậy?
Ông Trần Thăng Long: Tính đến cuối năm 2025, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu Việt Nam đã đạt khoảng 82% GDP, song vẫn thấp hơn đáng kể so với các thị trường mới nổi và phát triển trong khu vực (Thái Lan và Malaysia ở mức 100% GDP, Đài Loan 280% GDP nhờ các công ty công nghệ lớn).
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy khi thu nhập bình quân đầu người vượt ngưỡng trung bình, tỷ lệ vốn hóa/GDP thường bứt tốc lên trên 100%. Với Việt Nam, dư địa mở rộng của thị trường chứng khoán vẫn còn rất lớn.
Mục tiêu đến năm 2030 đưa vốn hóa thị trường đạt tối thiểu 120% GDP cho thấy TTCK cần tăng trưởng 1,5-2 lần về quy mô, với động lực then chốt đến từ quá trình cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn và cú hích nâng hạng thị trường, qua đó thu hút mạnh mẽ hơn dòng vốn trong và ngoài nước.
PV: Chúng ta có nhu cầu lớn về phát hành thêm, bán vốn, thoái vốn nhà nước nhưng chúng ta có một điểm nghẽn đó là dòng vốn ngoại chưa ngừng rút. Liệu bài toán này sẽ sớm được giải quyết trong thời gian tới, thưa ông?

Ông Trần Thăng Long: Trong năm 2025, thị trường chứng khoán Việt Nam ghi nhận xu hướng bán ròng rất mạnh từ khối nhà đầu tư nước ngoài, với giá trị ước tính trên 135 nghìn tỷ đồng (khoảng 5,13 tỷ USD). Diễn biến này phản ánh sự bất lợi mang tính chu kỳ và cấu trúc của dòng vốn toàn cầu hơn là các yếu tố nội tại của nền kinh tế Việt Nam.
Thứ nhất, chênh lệch lãi suất tiếp tục là lực cản lớn. Kể từ giữa năm 2022, Mỹ và nhiều nền kinh tế phát triển duy trì mặt bằng lãi suất cao để kiểm soát lạm phát, trong khi Việt Nam ưu tiên chính sách tiền tệ nới lỏng nhằm hỗ trợ tăng trưởng.
Khoảng chênh lệch lợi suất bị thu hẹp khiến dòng vốn quốc tế dịch chuyển ngược về các thị trường phát triển, nơi mức sinh lời điều chỉnh theo rủi ro hấp dẫn hơn.
Thứ hai, áp lực tỷ giá làm suy giảm hiệu quả đầu tư của khối ngoại. Việc VND mất giá so với USD, trong bối cảnh USD lại suy yếu tương đối so với các đồng tiền chủ chốt như EUR, JPY hay CNY, khiến nhà đầu tư đến từ châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc chịu thiệt hại kép về tỷ giá, qua đó gia tăng động lực rút vốn.
Thứ ba, sự tái phân bổ dòng vốn toàn cầu đang ưu tiên các trung tâm công nghệ lõi như AI và bán dẫn. Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc trở thành điểm đến chính của dòng tiền, trong khi phần lớn các thị trường mới nổi Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam, chịu áp lực rút ròng. Đồng thời, rủi ro địa chính trị và bất định thương mại thúc đẩy xu hướng trú ẩn, khiến dòng tiền dịch chuyển sang vàng và các tài sản phòng thủ.
Dù vậy, điểm tích cực là khối ngoại không bán ròng liên tục mà đã quay lại mua ròng trong một số thời điểm then chốt như tháng 7 và tháng 12/2025; các quỹ ETF cũng cho thấy tín hiệu ổn định hơn và đã mua ròng trở lại đầu năm 2026.
Bước sang năm 2026, áp lực bán ròng được kỳ vọng sẽ thu hẹp nhờ triển vọng FED hạ lãi suất, kỳ vọng nâng hạng thị trường, nguồn cung cổ phiếu chất lượng từ IPO và thoái vốn, cùng tiến trình cải cách pháp lý – hạ tầng thị trường (rút ngắn chu kỳ thanh toán, CCP, thị trường phái sinh, chứng chỉ lưu ký DR, sàn giao dịch tín chỉ các-bon,…). Đây sẽ là nền tảng để dòng vốn ngoại từng bước quay lại, giải ngân chọn lọc tại các thời điểm định giá hấp dẫn.












