Chuyên gia Singapore cảnh báo nguy cơ mất thị lực không thể hồi phục do glaucoma

Glaucoma là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa trên thế giới nhưng phần lớn người bệnh không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi thị lực đã bị tổn thương không thể phục hồi.

Trao đổi với Báo Sức khỏe và Đời sống, Phó Giáo sư Shamira Perera, Trưởng khoa và Chuyên gia tư vấn cấp cao Khoa Glaucoma, Trung tâm Mắt Quốc gia Singapore (Singapore National Eye Center - SNEC), chia sẻ những dấu hiệu nhận biết sớm, các phương pháp điều trị hiện đại cũng như lời khuyên giúp người dân bảo vệ thị lực trước "kẻ đánh cắp thị lực thầm lặng" này.

Phó Giáo sư Shamira Perera, Trưởng khoa và Chuyên gia tư vấn cấp cao Khoa Glaucoma, Trung tâm Mắt Quốc gia Singapore.

Phó Giáo sư Shamira Perera, Trưởng khoa và Chuyên gia tư vấn cấp cao Khoa Glaucoma, Trung tâm Mắt Quốc gia Singapore.

PV: Thưa Phó Giáo sư, những nhóm đối tượng nào có nguy cơ cao mắc glaucoma?

- Phó Giáo sư Shamira Perera: Mặc dù bất kỳ ai cũng có thể mắc glaucoma, một số nhóm đối tượng có nguy cơ cao hơn đáng kể.

Đầu tiên là những người trên 40 tuổi, đặc biệt là người trên 60 tuổi. Bên cạnh đó, nếu trong gia đình có người thân trực hệ như cha mẹ hoặc anh chị em ruột mắc glaucoma, nguy cơ mắc bệnh có thể tăng gấp bốn lần.

Người bị cận thị nặng (trên 6 đi-ốp) cũng thuộc nhóm nguy cơ cao vì tình trạng này làm nhãn cầu kéo dài, khiến các mô quanh dây thần kinh thị giác trở nên mỏng và dễ tổn thương hơn. Ngược lại, người viễn thị nặng thường có góc tiền phòng hẹp, làm tăng nguy cơ xuất hiện glaucoma góc đóng cấp.

Điều đáng lưu ý là dạng glaucoma phổ biến nhất – Glaucoma góc mở nguyên phát (Primary Open-Angle Glaucoma) – tiến triển rất âm thầm, không gây đau và hầu như không có dấu hiệu cảnh báo ở giai đoạn đầu.

PV: Việc điều trị chậm trễ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến thị lực và cuộc sống của người bệnh?

- Phó Giáo sư Shamira Perera: Glaucoma thường được phát hiện muộn vì bệnh chủ yếu gây tổn thương thị trường ngoại vi trước, trong khi thị lực trung tâm vẫn được bảo tồn cho đến giai đoạn rất muộn.

Ngoài ra, hệ thống thị giác của con người hoạt động dựa trên sự phối hợp của hai mắt. Mắt phải có thể bù đắp cho những vùng thị trường bị mất của mắt trái và ngược lại. Nếu người bệnh không chủ động kiểm tra từng mắt riêng biệt, họ thường không nhận ra rằng mình đã mất tới 50% số sợi thần kinh thị giác.

Khi bệnh được phát hiện muộn, những tổn thương này không thể phục hồi và có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống.

Người mắc glaucoma giai đoạn tiến triển thường bị suy giảm khả năng định hướng không gian, khiến việc đi lại độc lập trở nên khó khăn, làm tăng nguy cơ té ngã và có thể không còn đủ điều kiện để lái xe.

Bên cạnh những ảnh hưởng về thể chất, tác động tâm lý cũng rất lớn. Khi thị lực suy giảm rõ rệt, không ít người rơi vào trạng thái trầm cảm.

PV: Xin Phó Giáo sư cho biết hiện nay Trung tâm Mắt Quốc gia Singapore (SNEC) đang áp dụng những công nghệ và phương pháp điều trị tiên tiến nào trong quản lý Glaucoma?

Khung hình trọn vẹn của mắt khỏe đối lập hoàn toàn với tầm nhìn hẹp, mờ và tối ở bệnh nhân glaucoma.

Khung hình trọn vẹn của mắt khỏe đối lập hoàn toàn với tầm nhìn hẹp, mờ và tối ở bệnh nhân glaucoma.

- Phó Giáo sư Shamira Perera:Tại SNEC, chúng tôi ứng dụng hệ thống chẩn đoán và điều trị hiện đại nhằm xây dựng phác đồ điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân.

Khi lựa chọn phương pháp điều trị, bác sĩ sẽ đánh giá tổng thể nhiều yếu tố, bao gồm tuổi của bệnh nhân, mức nhãn áp (IOP), tốc độ tiến triển của bệnh, mức độ tổn thương cấu trúc của dây thần kinh thị giác… Những yếu tố này sẽ được đánh giá lại định kỳ trong suốt quá trình theo dõi lâu dài.

Nhìn chung, chiến lược điều trị sẽ được cân nhắc theo từng giai đoạn bệnh:

Glaucoma giai đoạn sớm: Người bệnh được điều trị bằng thuốc nhỏ mắt (có thể phối hợp nhiều loại thuốc) hoặc thực hiện laser tạo hình vùng bè chọn lọc (Selective Laser Trabeculoplasty - SLT).

Glaucoma giai đoạn trung bình: Với những bệnh nhân có dấu hiệu tiến triển hoặc không dung nạp thuốc nhỏ mắt, đặc biệt khi đồng thời mắc đục thủy tinh thể, bác sĩ có thể chỉ định phẫu thuật Glaucoma xâm lấn tối thiểu (Minimally Invasive Glaucoma Surgery - MIGS).

Glaucoma giai đoạn nặng: Những trường hợp tổn thương dây thần kinh thị giác nghiêm trọng, nhãn áp rất cao hoặc điều trị trước đó không hiệu quả sẽ cần các phương pháp phẫu thuật truyền thống như cắt bè củng giác mạc (trabeculectomy) hoặc đặt thiết bị dẫn lưu Glaucoma (glaucoma drainage device/tube implant).

Đối với các trường hợp Glaucoma kháng trị hoặc điều trị chủ yếu nhằm giảm triệu chứng, bác sĩ có thể lựa chọn các phương pháp làm giảm chức năng thể mi, chẳng hạn laser quang đông thể mi qua củng mạc (transscleral cyclophotocoagulation).

PV: Phó Giáo sư có thể thông tin thêm về việc SNEC hỗ trợ bệnh nhân quản lý Glaucoma lâu dài như thế nào, bao gồm theo dõi sau điều trị và ứng dụng y tế từ xa, đặc biệt đối với bệnh nhân quốc tế?

- Phó giáo sư Shamira Perera: Glaucoma là bệnh lý cần được theo dõi và quản lý suốt đời.

Sau khi tình trạng bệnh ổn định, SNEC sẽ chuyển người bệnh sang mô hình theo dõi định kỳ theo từng cấp độ, kết hợp giữa khám trực tiếp và khám từ xa nhằm tối ưu hóa thời gian của bệnh nhân cũng như nguồn lực y tế.

Thông qua các phòng khám theo dõi Glaucoma tại cộng đồng, bệnh nhân ổn định có thể thực hiện các xét nghiệm và những kiểm tra cần thiết ngay gần nơi sinh sống. Kết quả sau đó được tải lên hệ thống dữ liệu bảo mật của SNEC để các bác sĩ chuyên khoa đánh giá từ xa. Mô hình này đã được chứng minh là hiệu quả, tiết kiệm chi phí, tiết kiệm thời gian và được đa số bệnh nhân đón nhận…

Đối với bệnh nhân quốc tế, SNEC thường tiếp nhận các ca Glaucoma phức tạp được chuyển đến từ nhiều quốc gia và áp dụng mô hình kết hợp giữa khám trực tiếp và y tế từ xa.

Bệnh nhân có thể đo nhãn áp định kỳ và chụp OCT (Optical Coherence Tomography - chụp cắt lớp võng mạc bằng quang học) tại các cơ sở nhãn khoa đối tác được công nhận ở quốc gia của mình. Dữ liệu sau đó được chia sẻ bảo mật với SNEC để bác sĩ đánh giá.

Nếu tình trạng bệnh ổn định, bác sĩ sẽ tư vấn thông qua hình thức khám trực tuyến hai chiều để trao đổi kết quả, điều chỉnh đơn thuốc và mục tiêu kiểm soát nhãn áp. Điều này giúp bệnh nhân không phải nhiều lần di chuyển đến Singapore, từ đó giảm đáng kể chi phí và thời gian.

Sau phẫu thuật tại SNEC, bệnh nhân quốc tế cũng có thể tiếp tục được theo dõi bởi bác sĩ nhãn khoa tại quốc gia của mình theo mạng lưới đối tác mà SNEC đã xây dựng. Chúng tôi đã đào tạo hàng chục bác sĩ chuyên khoa quốc tế và thiết lập mạng lưới hợp tác với nhiều chuyên gia đầu ngành nhằm bảo đảm việc chăm sóc bệnh nhân được liên tục và hiệu quả.

PV: Dựa trên kinh nghiệm điều trị nhiều ca Glaucoma phức tạp tại Singapore, Phó Giáo sư có lời khuyên nào dành cho người dân Việt Nam trong việc tầm soát, phát hiện sớm và bảo vệ thị lực trước nguy cơ mất thị lực không thể hồi phục?

- Phó Giáo sư Shamira Perera:Thứ nhất, đừng chờ đến khi xuất hiện triệu chứng mới đi khám mắt. Nếu bạn trên 40 tuổi, bị cận thị hoặc có tiền sử gia đình mắc các bệnh về mắt, hãy khám mắt định kỳ hằng năm. Việc chỉ đo thị lực hoặc kiểm tra để cắt kính là chưa đủ; hãy chủ động đề nghị được tầm soát Glaucoma.

Thứ hai, thị lực 10/10 không đồng nghĩa với đôi mắt hoàn toàn khỏe mạnh. Bạn vẫn có thể nhìn rõ ở vùng trung tâm nhưng đồng thời đang âm thầm mất dần thị trường ngoại vi do Glaucoma. Vì vậy, không nên cho rằng nhìn rõ đồng nghĩa với việc mắt không có bệnh.

Cuối cùng, hãy tuân thủ điều trị nghiêm ngặt. Việc quên hoặc bỏ thuốc nhỏ mắt có thể khiến nhãn áp tăng lên một cách âm thầm, tiếp tục làm tổn thương dây thần kinh thị giác. Hãy bảo vệ phần thị lực bạn đang có, bởi với trình độ y học hiện nay, chúng ta vẫn chưa thể khôi phục phần thị lực đã mất do Glaucoma.

PV: Xin trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư Shamira Perera!

Thái Bình (thực hiện)

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/chuyen-gia-singapore-canh-bao-nguy-co-mat-thi-luc-khong-the-hoi-phuc-do-glaucoma-169260803151254253.htm