Chuyên gia Tội phạm học: 'Tự vệ để sống sót nhưng phải biết ranh giới pháp luật'
Vu thảm sát ở Đồng Nai khiến dư luận rất bàng hoàng và phẫn nộ về kẻ thủ ác Nguyễn Đức Anh, hắn đã xuống tay dã man đối với gia đình anh Nguyễn Viết Quang tại ấp Bùi Chu, xã Bình Minh, khiến vợ anh là chị H.T.M cùng hai con tử vong. Anh Quang bị thương nặng, hiện đã qua cơn nguy kịch.

Thượng tá, TS. Đào Trung Hiếu, chuyên gia Tội phạm học; cựu Điều tra viên Đội điều tra trọng án, Phòng Cảnh sát hình sự, Công an Thành phố Hà Nội. Ảnh: NVCC
Dư luận đặt câu hỏi, nếu gặp trường hợp bị bất ngờ đối diện trước một kẻ có hung khí, người dân có được chống trả quyết liệt? Phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã trao đổi với Thượng tá, TS.Đào Trung Hiếu, chuyên gia Tội phạm học; cựu Điều tra viên Đội điều tra trọng án, Phòng Cảnh sát hình sự, Công an Thành phố Hà Nội xung quanh vấn đề này.
Thưa ông, tối 4/9, Nguyễn Đức Anh (21 tuổi) đã bị Công an Đồng Nai khởi tố, bắt tạm giam để điều tra về tội Giết người theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự (BLHS). Đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng vì nghi phạm giết nhiều người, trong đó có 2 người dưới 16 tuổi, hành vi giết người bằng hung khí và có tính chất côn đồ. Ông có thể chia sẻ về quyền tự vệ của con người khi gặp những tình huống nguy hiểm?
Pháp luật Việt Nam thừa nhận quyền phòng vệ chính đáng, kể cả để bảo vệ người khác, nhưng quyền ấy có giới hạn. Võ thuật vẫn rất cần. Nhưng võ thuật đúng nghĩa phải tạo ra sự bình tĩnh, phản xạ và khả năng kiểm soát bản thân, chứ không tạo cho người học cảm giác mình là “người hùng”.
Tôi thường nói với học sinh rằng: “Chạy thoát khỏi một kẻ cầm dao không phải hèn. Đó có thể là quyết định thông minh nhất trong đời”.
Hiện cũng có một suy nghĩ khá phổ biến như: Muốn an toàn bản thân, phải học võ, gặp kẻ xấu phải biết khóa tay, tước dao, quật ngã đối phương. Cách hiểu đó chưa đầy đủ và đôi khi còn nguy hiểm. Thực tế, một người cầm dao có thể gây thương tích nghiêm trọng chỉ trong vài giây. Kẻ tấn công không hành động theo những bài tập đã được quy ước trong võ đường. Họ có thể đang say rượu, sử dụng chất kích thích, kích động mạnh hoặc hoàn toàn bất chấp hậu quả.
Vì vậy, người biết vài động tác tự vệ không nên hình thành tâm lý rằng mình đủ khả năng lao vào khống chế một người đang có hung khí. Tôi cho rằng, nếu có thể thoát khỏi nơi nguy hiểm, nên thoát. Nếu phát hiện kẻ xấu đột nhập vào nhà, người ở trong gia đình đó có thể đóng cửa, tạo vật cản, đưa trẻ nhỏ và người yếu thế vào nơi an toàn rồi gọi công an. Khi có thể giữ khoảng cách với hung khí, đừng tự mình thu hẹp khoảng cách ấy.
Điều 22 BLHS quy định: Phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc của Nhà nước, cơ quan, tổ chức. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
Pháp luật không yêu cầu một người khi đang bị đâm, bị đánh hoặc chứng kiến người khác bị tấn công phải đứng yên chờ cơ quan chức năng đến. Trong một tình thế nguy hiểm đang thực sự xảy ra, người dân có quyền chống trả để ngăn chặn hành vi xâm hại.

Lực lượng chức năng thành phố Đồng Nai thực hiện phong tỏa hiện trường, lấy lời khai và điều tra nguyên nhân vụ án mạng. Ảnh: Lê Xuân/TTXVN
Muốn xác định một hành vi có phải phòng vệ chính đáng hay không, về cơ bản phải nhìn vào mấy yếu tố. Trước hết phải có một hành vi xâm phạm thực tế và đang xảy ra. Nguy cơ không thể chỉ tồn tại trong suy đoán chủ quan của người phòng vệ; thứ hai, mục đích chống trả phải nhằm bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình hay của người khác; thứ ba, sự chống trả phải nhằm vào người đang thực hiện hành vi xâm phạm.
Quan trọng nhất, mức độ chống trả phải cần thiết trong hoàn cảnh cụ thể. Vấn đề là phải đánh giá toàn bộ tính chất và mức độ nguy hiểm của cuộc tấn công cũng như hoàn cảnh thực tế tại thời điểm người phòng vệ buộc phải quyết định. Một người bị kẻ có dao truy sát trong đêm, không có đường thoát, có trẻ nhỏ bên cạnh rõ ràng ở trong hoàn cảnh khác với hai người cãi nhau rồi xô xát bằng tay không.
Tại khoản 2 Điều 22 cũng xác định rất rõ: Nếu sự chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại thì đó là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Người có hành vi vượt quá vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
BLHS còn quy định riêng tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng tại Điều 126 và tội “Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” tại Điều 136.
Khi nguy hiểm đang hiện hữu, quyền phòng vệ phát sinh; nhưng khi cuộc tấn công đã chấm dứt, kẻ tấn công đã bị khống chế, bỏ chạy hoặc không còn khả năng tiếp tục gây nguy hiểm mà người bị hại vẫn tiếp tục truy đuổi để đánh, chém nhằm trả thù thì tính chất pháp lý đã thay đổi.
Như vậy, có những trường hợp, từ phòng vệ rất dễ chuyển sang tấn công. Ranh giới ấy đôi khi chỉ cách nhau vài chục giây. Và “con người cũng đừng biến quyền phòng vệ thành nghĩa vụ đối đầu”, thưa ông?
Trong khoa học luật hình sự thường sử dụng một số cách gọi để phân tích những trường hợp nằm ngoài phạm vi phòng vệ chính đáng. Đây không phải những chế định độc lập được Điều 22 liệt kê bằng tên gọi ấy, nhưng rất hữu ích để người dân hình dung. Phòng vệ sớm là chống trả khi hành vi xâm phạm chưa thực sự bắt đầu hoặc chưa tạo ra nguy cơ hiện hữu.
Chẳng hạn, trước đó một người từng dọa “tao sẽ đánh mày”, vài ngày sau ta nhìn thấy người ấy đi ngoài đường rồi chủ động lao tới đánh trước chỉ vì nghĩ rằng “nó sắp đánh mình”. Không thể mặc nhiên coi đó là phòng vệ chính đáng.
Tuy nhiên, “đang xâm phạm” cũng không nên hiểu quá máy móc rằng phải đợi đối phương đâm nhát dao đầu tiên mới được chống trả. Nếu một người đang cầm dao lao thẳng tới, khoảng cách rất gần, có những biểu hiện khách quan cho thấy cuộc tấn công sắp diễn ra tức thời - nguy cơ đã hiện hữu. Pháp luật về phòng vệ không buộc nạn nhân phải chịu thương tích trước rồi mới có quyền tự bảo vệ mình. Đây là điểm rất quan trọng khi dạy kỹ năng tự vệ.
Phòng vệ muộn là trường hợp hành vi xâm phạm đã kết thúc nhưng sự chống trả vẫn tiếp tục. Tức là, kẻ tấn công đã bỏ hung khí, đã bị giữ chặt, bất tỉnh hoặc đã bỏ chạy và không còn đe dọa trực tiếp, nhưng người bị hại vẫn truy đuổi để đánh cho “bõ tức”. Khi đó, mục đích ngăn chặn nguy hiểm có thể đã chuyển thành trả đũa.
Kinh nghiệm điều tra cho tôi thấy, đây là ranh giới người trong cuộc rất dễ vượt qua bởi tâm lý lúc ấy thường cực kỳ kích động. Vài giây trước họ còn là người bị tấn công. Nhưng nếu tiếp tục sử dụng bạo lực sau khi nguy hiểm đã thực sự chấm dứt, vị trí pháp lý của họ có thể thay đổi.
Còn phòng vệ tưởng tượng, trường hợp một người cho rằng mình đang bị tấn công nên chống trả nhưng thực tế hành vi xâm phạm ấy không tồn tại. Ví dụ, trong bóng tối một người nhìn thấy người khác thò tay vào túi, tưởng họ chuẩn bị rút dao nên lập tức đánh gây thương tích, trong khi thực tế người kia chỉ lấy điện thoại. Khi đó phải xem xét vì sao có sự nhận thức nhầm, hoàn cảnh khách quan có đủ làm một người bình thường tin rằng nguy hiểm đang hiện hữu hay không và người thực hiện có lỗi như thế nào.
Nhưng cũng không thể đánh giá sự việc bằng sự bình tĩnh của người ngồi xem lại camera sau đó. Phải đặt mình vào đúng thời điểm, không gian, thông tin và mức độ nguy hiểm mà người phòng vệ thực tế nhận biết lúc ấy. Từ những nguyên tắc pháp luật nói trên, tôi cho rằng kỹ năng ứng phó với bạo lực nên được dạy rất thực tế.
Trước một người đang có hung khí, hãy ưu tiên tạo khoảng cách và tìm đường thoát. Dùng cửa, bàn ghế, tường hoặc vật cản để ngăn khả năng tiếp cận nếu điều kiện cho phép. Đưa trẻ nhỏ, người già ra khỏi vùng nguy hiểm. Gọi Công an và kêu gọi hỗ trợ càng sớm càng tốt. Nếu không còn đường thoát và sự tấn công trực tiếp đe dọa tính mạng, sức khỏe của mình hoặc người khác thì pháp luật cho phép chống trả cần thiết để ngăn chặn cuộc tấn công.
Nhưng mục tiêu là ngăn nguy hiểm, không phải trừng phạt kẻ tấn công. Khi nguy hiểm đã được loại bỏ thì phải dừng lại. Cần được dạy cho học sinh cũng như người lớn: tránh được thì tránh; buộc phải chống trả thì chống trả để thoát hiểm; nguy hiểm chấm dứt thì dừng.

Nguyễn Đức Anh, 21 tuổi, ngụ phường Hố Nai, Thành phố Đồng Nai, bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra về hành vi Giết người. Ảnh: Công an Đồng Nai
Thưa ông, vụ thảm sát ở Đồng Nai rất đau lòng, theo ông, Việt Nam cần phát triển mạnh mẽ hơn nữa về “văn hoá tự tự vệ”?
Từ vụ án Đồng Nai, nếu chỉ kêu gọi trẻ em đi học võ thì chưa đủ. Điều cần thiết hơn là xây dựng một văn hóa tự vệ trong nhà trường và cộng đồng. Trẻ phải được học cách nhận diện người đang đeo bám mình, cách xử lý khi bị đe dọa sau một mối quan hệ, cách cầu cứu khi có người lạ tìm tới nhà, cách thoát khỏi một không gian nguy hiểm và cách ứng xử khi chứng kiến người khác bị tấn công.
Các Câu lạc bộ võ thuật có thể rèn thể lực, phản xạ và những kỹ thuật thoát thân cơ bản. Nhưng đi cùng với đó phải có kiến thức pháp luật, tâm lý và kỹ năng đánh giá tình huống. Đặc biệt, đừng dạy trẻ rằng chứng kiến nguy hiểm thì phải lao vào can thiệp bằng sức mạnh.
Bảo vệ người khác cũng là căn cứ của phòng vệ chính đáng theo Điều 22. Nhưng giúp người khác có rất nhiều cách như gọi Công an, báo động cho những người xung quanh, mở đường thoát, đưa người yếu thế ra ngoài, ghi nhận thông tin phục vụ truy xét. Việc trực tiếp đối đầu một kẻ có dao chỉ nên đặt ra khi tình thế thực sự buộc phải làm như vậy.
Pháp luật trao cho mỗi người quyền tự vệ. Nhưng kỹ năng sống phải giúp chúng ta biết khi nào nên tránh, khi nào phải chống trả và khi nào nhất thiết phải dừng lại. Học võ là tốt. Biết pháp luật còn quan trọng hơn. Và cao hơn cả hai là khả năng giữ được sự bình tĩnh để lựa chọn cách ứng xử giúp mình và người khác sống sót.
Tự vệ tốt nhất không phải là hạ được đối phương. Đó là chấm dứt được nguy hiểm mà không tạo thêm một bi kịch khác.
Xin trân trọng cảm ơn ông!

