Cơ chế và công nghệ mở dư địa phát triển cho dầu khí

Gia tăng trữ lượng, duy trì sản lượng dầu khí đòi hỏi cơ chế phù hợp và công nghệ mới, đồng thời mở hướng khai thác hiệu quả mỏ nhỏ, mỏ cận biên tại Việt Nam.

Từ tối ưu khai thác các mỏ hiện hữu, phát triển mỏ nhỏ, mỏ cận biên đến lưu trữ CO2, ngành dầu khí đang đứng trước những cơ hội mở rộng không gian phát triển. Để làm rõ vai trò của cơ chế, chính sách và công nghệ trong quá trình này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Trường Giang, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tìm kiếm Thăm dò và Khai thác Dầu khí, Viện Dầu khí Việt Nam (VPI).

Cơ chế mới mở dư địa cho dầu khí

- Thưa ông, những khó khăn lớn nhất trong việc gia tăng trữ lượng và duy trì sản lượng dầu khí hiện nay là gì?

Ông Phạm Trường Giang: Việc bảo đảm gia tăng trữ lượng cũng như duy trì sản lượng dầu khí đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Tôi xin nêu 3 vấn đề chính.

Thứ nhất là rủi ro trong công tác thăm dò và thẩm lượng. Theo nghiên cứu và đánh giá của chúng tôi, tiềm năng trữ lượng dầu khí còn lại tại Việt Nam tương đối lớn. Tuy nhiên, phần lớn nằm ở những đối tượng khó thăm dò, có cấu trúc địa chất phức tạp và điều kiện thi công nhiều trở ngại. Những yếu tố này làm tăng rủi ro và giảm xác suất thành công trong thăm dò. Khi thiếu các giếng thăm dò thành công hoặc thiếu phát hiện mới, việc gia tăng trữ lượng để bù đắp phần sản lượng đã khai thác sẽ gặp nhiều khó khăn.

Ông Phạm Trường Giang, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tìm kiếm Thăm dò và Khai thác Dầu khí, Viện Dầu khí Việt Nam.

Ông Phạm Trường Giang, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tìm kiếm Thăm dò và Khai thác Dầu khí, Viện Dầu khí Việt Nam.

Thứ hai là sự suy giảm sản lượng tại các mỏ hiện hữu. Đây là quy luật tự nhiên mà các mỏ dầu khí ở Việt Nam cũng như trên thế giới đều phải trải qua. Để duy trì sản lượng hoặc kiềm chế đà suy giảm, cần áp dụng công nghệ mới và các giải pháp tối ưu khai thác. Tuy nhiên, việc áp dụng những công nghệ này cũng có rủi ro về khả năng thành công, đồng thời làm tăng chi phí đầu tư.

Thứ ba là khó khăn trong phát triển các mỏ mới. Theo thống kê và đánh giá của chúng tôi, khoảng một nửa số phát hiện chưa được đưa vào phát triển hiện nay thuộc nhóm mỏ nhỏ và mỏ cận biên. Khó khăn lớn nhất của các dự án này là chi phí đầu tư và hiệu quả kinh tế. Nếu phát triển độc lập, các mỏ nhỏ thường khó bảo đảm hiệu quả do phải gánh các chi phí đầu tư, phát triển và vận hành.

Do đó, cần có cơ chế và giải pháp tối ưu phát triển, khai thác các mỏ nhỏ, cũng như kết nối các mỏ này với cơ sở hạ tầng hiện có để giảm thiểu chi phí.

- Trước tình trạng suy giảm sản lượng tại các mỏ hiện hữu, ông đánh giá thế nào về những cơ chế mới trong Luật Dầu khí năm 2026 nhằm tối ưu khai thác, phát triển mỏ nhỏ, mỏ cận biên và mở ra hoạt động thu giữ, vận chuyển, lưu trữ CO2?

Ông Phạm Trường Giang: Luật Dầu khí mới đã được phê duyệt vào tháng 8/2026 và có hiệu lực từ 1/3/2027. Tôi cho rằng luật đã mở ra nhiều cơ chế mới, tạo hành lang pháp lý để vừa tối ưu khai thác các mỏ hiện hữu, vừa tạo điều kiện phát triển các mỏ mới. Đặc biệt là nhóm mỏ cần cơ chế ưu đãi đặc biệt, như mỏ nhỏ và mỏ cận biên. Luật cũng mở ra cơ chế, chính sách cho hoạt động đầu tư thu giữ, vận chuyển và lưu trữ CO2.

Có thể kể đến một số thay đổi chính như cơ chế ưu đãi đặc biệt đối với mỏ nhỏ và mỏ cận biên; khuyến khích đầu tư nâng cao hệ số thu hồi dầu và khai thác tận thu; kết nối các mỏ ở những lô lân cận để tối ưu hóa cơ sở hạ tầng.

Cùng với đó là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, trong đó có Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), nhằm tăng tính chủ động trong quyết định các dự án đầu tư.

Tôi cho rằng đây là những thay đổi lớn, mang tính căn bản của Luật Dầu khí, góp phần thúc đẩy việc đưa các dự án mới vào phát triển.

Hiện thực hóa tiềm năng lưu trữ CO2

- Thu giữ, vận chuyển và lưu trữ CO2 đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn. Theo ông, trong điều kiện hiện nay, khi nào hoạt động này có thể được triển khai và tạo ra giá trị thực tế?

Ông Phạm Trường Giang: Trước hết, phải khẳng định tiềm năng lưu trữ CO2 của Việt Nam là lớn. Trong các nghiên cứu đã thực hiện, có sự hợp tác với những tập đoàn lớn trên thế giới, chúng tôi đã xác định được tiềm năng lưu trữ CO2 cũng như những khu vực có thể lựa chọn làm điểm lưu trữ.

Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất hiện nay, theo chúng tôi, không phải là công nghệ mà là chi phí đầu tư. Một số khảo sát, đánh giá cho thấy tổng chi phí của một dự án, bao gồm thu gom, vận chuyển và lưu trữ CO2, tương đối lớn. Chi phí này cũng biến động mạnh tùy thuộc vào điểm lưu trữ và nguồn thu giữ CO2. Do đó, xác định đơn vị đầu tư các dự án lưu trữ CO2 là một vấn đề lớn. Theo tính toán, chi phí triển khai thậm chí có thể cao hơn chi phí doanh nghiệp bỏ ra để mua tín chỉ carbon.

Theo tôi, trước mắt nên tập trung vào các dự án có sẵn hạ tầng hoặc các nguồn phát thải tập trung, có hàm lượng CO2 cao. Những yếu tố này sẽ giúp giảm chi phí triển khai dự án. Từ kết quả thực hiện bước đầu, có thể mở rộng dần sang các khu vực khác, hình thành các điểm thu giữ, lưu trữ CO2 tập trung, tiến tới phát triển mạng lưới trên thềm lục địa Việt Nam.

- Xin ông cho biết, công nghệ mới đang góp phần thay đổi hiệu quả thăm dò và khai thác dầu khí như thế nào?

Ông Phạm Trường Giang: Công nghệ mới đang được các đơn vị thành viên của Petrovietnam áp dụng tương đối thường xuyên. Giá trị lớn nhất mang lại là giảm chi phí đầu tư, vận hành và nâng cao hiệu quả khai thác trữ lượng của mỏ. Có thể kể đến các công nghệ minh giải địa chấn ba chiều mới, giúp phát hiện những cấu tạo, khu vực tiềm năng mà công nghệ truyền thống gần như không phát hiện được.

Từ phát triển mỏ nhỏ, mỏ cận biên đến lưu trữ CO2, ngành dầu khí có cơ hội mở rộng dư địa phát triển nhờ cơ chế phù hợp, công nghệ mới và tận dụng hạ tầng hiện có.

Từ phát triển mỏ nhỏ, mỏ cận biên đến lưu trữ CO2, ngành dầu khí có cơ hội mở rộng dư địa phát triển nhờ cơ chế phù hợp, công nghệ mới và tận dụng hạ tầng hiện có.

Bên cạnh đó là công nghệ mới trong thi công giếng khoan, kiểm soát quỹ đạo giếng khoan; ứng dụng tự động hóa và điều khiển từ xa trên các giàn khai thác.

Công nghệ nâng cao hệ số thu hồi dầu cũng là một hướng công nghệ chiến lược, đã được đưa vào chiến lược ngành từ nhiều năm nay và đang được triển khai đánh giá, thử nghiệm rộng rãi.

Nhìn chung, công nghệ mới không chỉ góp phần nâng cao sản lượng khai thác và xác suất thành công trong thăm dò, mà còn giúp đưa vào phát triển, khai thác những đối tượng trước đây có thể bị bỏ qua do hạn chế về công nghệ.

- Đối với vận chuyển CO2, định hướng lựa chọn phương thức vận chuyển bằng tàu hay đường ống sẽ dựa trên những yếu tố nào, thưa ông?

Ông Phạm Trường Giang: Hiện nay, các dự án lưu trữ CO2 sử dụng hai phương thức vận chuyển chủ yếu là đường ống và tàu. Việc lựa chọn phương thức nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố.

Thứ nhất là quy mô, khả năng lưu trữ của điểm được lựa chọn. Thông thường, với những điểm lưu trữ lớn, phương án đường ống sẽ được cân nhắc vì dự án kéo dài và cần điều kiện vận hành ổn định trong thời gian dài.

Thứ hai là khoảng cách từ các điểm tập kết CO2 đến điểm lưu trữ. Thông thường, đầu tư đường ống có chi phí ban đầu lớn hơn, nhưng khả năng vận hành và mức độ ổn định cao hơn. Với các dự án ngắn hạn, vận chuyển bằng tàu có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn do chi phí đầu tư ban đầu thấp hơn.

- Xin cảm ơn ông!

Thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Kế hoạch hành động tại Quyết định số 3035/QĐ-BCT, Bộ Công Thương tổ chức Diễn đàn An ninh năng lượng quốc gia Việt Nam 2026 vào ngày 10/11/2026. Với chủ đề “Năng lượng tự chủ - Mạch máu của tăng trưởng hai con số”, diễn đàn tập trung thảo luận các giải pháp chiến lược nhằm nâng cao khả năng tự chủ, bảo đảm an ninh năng lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

Bình Minh

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/co-che-va-cong-nghe-mo-du-dia-phat-trien-cho-dau-khi-479219.html