Cơ chế vượt trội: Đòn bẩy hút vốn chất lượng cao
Theo các chuyên gia, muốn hình thành những cực tăng trưởng mới và thu hút dòng vốn chất lượng cao, Việt Nam cần phát triển các khu kinh tế và khu thương mại tự do với cơ chế vượt trội, được trao quyền tự chủ thực chất và đủ sức cạnh tranh ở quy mô quốc tế.
Cạnh tranh bằng thể chế thay vì ưu đãi
Ông Mạc Vũ Hưng, Giám đốc Dự án của Boston Consulting Group (BCG) cho biết, đến năm 2024 thế giới đã có hơn 7.000 khu kinh tế, khu thương mại tự do và đặc khu kinh tế, tăng mạnh so với khoảng 5.000 khu chỉ trong vòng tám năm. Xu hướng này phản ánh vai trò ngày càng quan trọng của các khu kinh tế trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia, đồng thời cũng cho thấy mức độ cạnh tranh ngày càng lớn trong thu hút đầu tư quốc tế.
Theo ông Hưng, cùng với sự gia tăng về số lượng, mô hình các khu kinh tế cũng liên tục được nâng cấp. Nếu trước đây chủ yếu là các khu công nghiệp truyền thống thì hiện nay nhiều quốc gia đã phát triển các khu thương mại tự do, trung tâm tài chính và đặc khu kinh tế đa ngành với cơ chế quản trị linh hoạt cùng các chính sách đột phá. Thực tiễn tại Thượng Hải, Thâm Quyến, Dubai hay Incheon cho thấy, dù theo đuổi những định vị phát triển khác nhau, điểm chung của các mô hình thành công là xác định rõ ngành ưu tiên và xây dựng hệ thống chính sách phù hợp với lợi thế của từng khu.
Từ những kinh nghiệm này, ông Hưng cho rằng Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận trong xây dựng khu kinh tế và khu thương mại tự do. Các khu kinh tế và khu thương mại tự do không nên tiếp tục cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hay giảm chi phí đầu tư mà cần chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng thể chế. Chính sách phải được thiết kế theo chiến lược phát triển của từng khu, có sức cạnh tranh toàn cầu và tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn mà nhà đầu tư đang gặp phải, từ thủ tục hành chính, hải quan, hạ tầng, đất đai đến nguồn nhân lực và quá trình triển khai dự án.
Định hướng này cũng phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. TS. Phí Vĩnh Tường, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho rằng, Nghị quyết số 10-NQ/TW thể hiện quyết tâm đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững, tạo động lực để Chính phủ ban hành các chính sách mới nhằm thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao. Điều đó đồng nghĩa với việc cách thức lựa chọn nhà đầu tư và môi trường đầu tư cũng phải thay đổi để đáp ứng yêu cầu phát triển mới, đồng thời gắn thu hút FDI với tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Phạm Ngọc Thạch, Phó Trưởng ban Pháp chế VCCI cho rằng, Việt Nam đang chuyển từ tư duy ưu tiên quy mô vốn và số lượng dự án sang chú trọng chất lượng dòng vốn, đặc biệt là các dự án công nghệ cao, có giá trị gia tăng và khả năng lan tỏa lớn. Theo ông, điều nhà đầu tư quan tâm hiện nay không chỉ là ưu đãi mà còn là tính minh bạch của thể chế, sự ổn định của chính sách và mức độ thuận lợi của thủ tục hành chính. Đây cũng là những yếu tố quyết định sức hấp dẫn của các khu kinh tế và khu thương mại tự do trong giai đoạn cạnh tranh mới.

Cần phát triển các khu kinh tế và khu thương mại tự do với cơ chế vượt trội, được trao quyền tự chủ thực chất và đủ sức cạnh tranh ở quy mô quốc tế
Kiến tạo cực tăng trưởng từ cơ chế vượt trội
Đại diện BCG cho rằng, để các khu kinh tế và khu thương mại tự do thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần xây dựng bốn trụ cột chính sách nền tảng gồm mô hình quản trị linh hoạt, môi trường kinh doanh thông thoáng, không gian tài chính mở và hệ sinh thái nhân lực có sức cạnh tranh quốc tế.
Trong đó, mô hình quản trị linh hoạt với quyền tự chủ cao cho cơ quan quản lý khu kinh tế được xem là điều kiện quan trọng để rút ngắn quá trình ra quyết định và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách. Song song với đó là cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình hải quan, đồng thời triển khai các cơ chế thử nghiệm (sandbox) đối với những lĩnh vực mới. BCG cũng đề xuất hình thành không gian tài chính thông thoáng, tạo điều kiện cho dòng vốn xuyên biên giới vận động linh hoạt, cùng với các chính sách về thuế thu nhập cá nhân, thị thực và điều kiện sống nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.
Các khu kinh tế và khu thương mại tự do cũng cần trở thành không gian triển khai các chính sách dành riêng cho những ngành động lực của nền kinh tế. Đối với lĩnh vực sản xuất công nghệ cao như điện tử, bán dẫn hay robot, cần tập trung phát triển hạ tầng năng lượng, hạ tầng số, cơ chế sandbox và ưu đãi phù hợp. Với AI, trung tâm dữ liệu và dịch vụ số, trọng tâm là bảo đảm hạ tầng điện, viễn thông và thu hút nhân lực công nghệ. Trong lĩnh vực logistics, các khu có thể tiên phong cải cách kiểm tra chuyên ngành, phát triển hạ tầng logistics đa phương thức; trong khi lĩnh vực du lịch và năng lượng có thể triển khai các mô hình mới như du lịch y tế, kinh tế đêm hay thử nghiệm các nguồn năng lượng mới.
Từ những kinh nghiệm quốc tế, BCG cho rằng trước hết cần xác định rõ định vị và ngành ưu tiên của từng khu kinh tế; đồng thời thiết kế chính sách theo từng ngành thay vì áp dụng cơ chế ưu đãi đồng loạt. Quan trọng hơn, các chính sách phải tập trung tháo gỡ những rào cản về thủ tục, hạ tầng, đất đai, nhân lực và vận hành thay vì chỉ cạnh tranh bằng chi phí đầu tư. Đó cũng là điều kiện để các khu kinh tế và khu thương mại tự do trở thành môi trường thu hút những dự án có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và khả năng lan tỏa mạnh.
TS. Phí Vĩnh Tường thì nhấn mạnh, để đạt mục tiêu đó, cùng với việc phát triển đồng bộ hạ tầng, Việt Nam cần thay đổi cách đánh giá hiệu quả thu hút FDI, quan tâm nhiều hơn đến mức độ liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước cũng như khả năng tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong khi đó, ông Phạm Ngọc Thạch nhấn mạnh doanh nghiệp trong nước cần nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ; đồng thời tăng cường gắn kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp để xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của các dự án công nghệ cao.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/co-che-vuot-troi-don-bay-hut-von-chat-luong-cao-185368.html











