Cơ giới hóa từ đơn lẻ đến đồng bộ, hiện đại và số hóa ở ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đẩy mạnh cơ giới hóa gắn chuyển đổi số nhằm giảm chi phí sản xuất, thích ứng biến đổi khí hậu và nâng sức cạnh tranh nông sản.
Chuyển mạnh sang cơ giới hóa đồng bộ trong toàn chuỗi sản xuất
Theo tài liệu “Định hướng thúc đẩy cơ giới hóa trong sản xuất lúa theo hướng đồng bộ, hiện đại, bền vững” của Cục Kinh tế Hợp tác và Phát triển nông thôn - thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhiều khâu trong sản xuất lúa hiện đã đạt tỷ lệ cơ giới hóa cao như làm đất, thu hoạch, bơm tưới và vận chuyển. Các thiết bị như máy kéo, máy cấy, máy gặt đập liên hợp, máy sấy và thiết bị phun thuốc đã được sử dụng phổ biến ở nhiều địa phương.
Một trong những nguyên nhân lớn là sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL vẫn mang tính nhỏ lẻ, ruộng đất manh mún khiến hiệu quả sử dụng máy móc chưa cao. Bên cạnh đó, nhiều loại thiết bị hiện nay chưa phù hợp điều kiện đồng ruộng Việt Nam, giá thành còn cao và phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu.

Drone hoạt động trên đồng ruộng xã Mỹ Tú, TP.Cần Thơ. Ảnh: Văn Kim Khanh
Ông Hồ Phi Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế Hợp tác & Phát triển nông thôn, cho rằng trong giai đoạn mới, cơ giới hóa không thể tiếp tục phát triển theo kiểu riêng lẻ mà phải chuyển sang hướng đồng bộ, hiện đại và gắn với chuyển đổi số.
Theo ông Tuấn, yêu cầu hiện nay là chuyển từ “cơ giới hóa đơn lẻ” sang “cơ giới hóa đồng bộ”, từ “hỗ trợ thiết bị” sang “phát triển hệ sinh thái” và từ “sản xuất truyền thống” sang “nông nghiệp thông minh”.
Điều này đồng nghĩa với việc cơ giới hóa phải được triển khai trên toàn chuỗi sản xuất gồm làm đất, gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch, sấy, bảo quản, chế biến và xử lý phụ phẩm. Đồng thời, ưu tiên các dây chuyền đồng bộ, thiết bị chuyên dùng và công nghệ giảm phát thải nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.
Công nghệ số tạo bước chuyển cho nông nghiệp thông minh
Song song với cơ giới hóa, chuyển đổi số đang tạo ra thay đổi mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp hiện đại. Tại TP.Cần Thơ, nhiều mô hình ứng dụng công nghệ số đã được triển khai trong sản xuất lúa chất lượng cao, rau màu và cây ăn trái.
Bà Nguyễn Thị Giang, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp & Môi Trường (NN&MT) TP.Cần Thơ, cho biết thành phố đang đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu số trong nông nghiệp, đồng thời thúc đẩy ứng dụng công nghệ vào quản lý sản xuất và truy xuất nguồn gốc nông sản.

Cơ giới hóa trong nuôi thủy sản công nghệ cao. Ảnh: Văn Kim Khanh
Theo bà Nguyễn Thị Giang, hiện nhiều hợp tác xã tại Cần Thơ đã sử dụng máy bay không người lái để phun thuốc và gieo sạ. Công nghệ này giúp giảm lượng giống gieo sạ, tiết kiệm thuốc bảo vệ thực vật và giảm công lao động đáng kể.
“Chuyển đổi số đang giúp thay đổi tư duy sản xuất truyền thống sang quản trị sản xuất dựa trên dữ liệu. Khi dữ liệu được cập nhật đầy đủ, việc kiểm soát chất lượng, dự báo mùa vụ và kết nối thị trường sẽ hiệu quả hơn”, bà Nguyễn Thị Giang cho biết.
Theo định hướng của ngành nông nghiệp, trong thời gian tới sẽ đẩy mạnh ứng dụng AI, IoT, GPS, drone, cảm biến thông minh và dữ liệu lớn vào sản xuất nông nghiệp. Các công nghệ này sẽ được sử dụng trong giám sát sản xuất, điều phối máy móc, dự báo mùa vụ và tối ưu sử dụng vật tư đầu vào.
Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Giang, thách thức lớn hiện nay là nhiều nông hộ quy mô nhỏ vẫn khó tiếp cận công nghệ hiện đại do chi phí đầu tư cao. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực có khả năng vận hành thiết bị và quản trị dữ liệu số trong nông nghiệp còn thiếu.
Do đó, cần tăng cường chính sách tín dụng ưu đãi để hỗ trợ hợp tác xã, doanh nghiệp đầu tư thiết bị cơ giới hiện đại; đồng thời đẩy mạnh đào tạo kỹ thuật viên, nhân lực vận hành máy và chuyển giao công nghệ cho nông dân.
Hướng đến nền nông nghiệp xanh, giảm phát thải và phát triển bền vững
TS. Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia cao cấp Viện Nghiên cứu lúa gạo Quốc tế IRRI, cho rằng ĐBSCL đang đứng trước cơ hội lớn để chuyển đổi sang nền nông nghiệp xanh, phát thải thấp và ứng dụng công nghệ cao.

Trình diễn cơ giới hóa nông nghiệp ở Cần Thơ. Ảnh: Lê Sơn
Theo TS. Nguyễn Văn Hùng, việc ứng dụng AI, IoT, drone, cảm biến thông minh và dữ liệu lớn sẽ giúp ngành nông nghiệp quản lý hiệu quả hơn tài nguyên đất, nước và vật tư đầu vào. Những công nghệ này cho phép theo dõi đồng ruộng theo thời gian thực, từ đó tối ưu hóa quy trình sản xuất và giảm lãng phí.
Trong tương lai, nông nghiệp không chỉ cần sản lượng cao mà còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn xanh và phát thải thấp của thị trường toàn cầu. Vì vậy, cơ giới hóa cần gắn chặt với công nghệ giảm phát thải và kinh tế tuần hoàn.
Theo định hướng của ngành nông nghiệp, thời gian tới sẽ ưu tiên phát triển các thiết bị tiết kiệm năng lượng, máy sử dụng nhiên liệu sạch, công nghệ canh tác giảm phát thải và thiết bị xử lý rơm rạ phục vụ kinh tế tuần hoàn.
TS. Nguyễn Văn Hùng đánh giá, việc xử lý rơm rạ bằng máy móc hiện đại thay cho đốt đồng sẽ giúp giảm đáng kể phát thải khí nhà kính, đồng thời tạo nguồn nguyên liệu cho sản xuất phân hữu cơ, năng lượng sinh học và các sản phẩm giá trị gia tăng khác.
Bên cạnh đó, việc phát triển các cánh đồng lớn, vùng nguyên liệu tập trung và liên kết chuỗi sẽ giúp tăng hiệu quả cơ giới hóa, giảm chi phí sản xuất và chuẩn hóa chất lượng nông sản phục vụ xuất khẩu.
Theo các chuyên gia, để thúc đẩy quá trình cơ giới hóa và số hóa trong nông nghiệp, cần sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện trường và hợp tác xã. Định hướng của ngành nông nghiệp thời gian tới là phát triển nền sản xuất lúa theo hướng “cơ giới hóa đồng bộ - thông minh - xanh - bền vững”, từng bước nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của ngành hàng lúa gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.











