Có một 'chiếu nghỉ' trên dặm dài Nam tiến

VHXQ - Trên hành trình mở cõi, đất Quảng Nam xưa nhận lãnh vai trò 'chiếu nghỉ' trên bậc thang lịch sử và gửi gắm nhiều tâm tình, ký ức…

Nét xuân ở đình làng Tam Kỳ xưa. Ảnh: THUẬN TRIỀU

Nét xuân ở đình làng Tam Kỳ xưa. Ảnh: THUẬN TRIỀU

Dấu “cãi”, vết làng

Một người Nghệ An từng dừng chân ở Quảng Nam và ít nhiều góp sức gầy dựng nên nét đặc trưng của người Quảng: hay cãi.

Chuyện xưa, dưới triều vua Lê Tương Dực, cụ Nguyễn Văn Lang (ở xã Tiên Bào, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ An) làm quan đến Thừa tướng thượng tể. Biết Mạc Đăng Dung sắp cướp ngôi vua Lê, nhân được vua mời vào triều, ông không đi mà còn dâng điều trần bình trị 14 điểm gồm cả những điểm được cho là “dạy vua” như: tự răn mình sửa lỗi, lánh xa thanh sắc… Sau, biết mình không nên sống ở Bắc, ông xin vua cho di dân vào Nam khai thác biên thùy. Ông lập xã Hương Ly, tỉnh Quảng Nam rồi ở luôn tại đó.

Dẫn tài liệu về cuộc di dân Nam tiến này, nhà văn Nguyễn Văn Xuân đúc kết trong biên khảo “Phong trào Duy tân”: Với những vị (thủy tổ) có thành tích cãi vua cỡ đó thì có lẽ trong bản chất người Quảng Nam đã có máu cãi. “Hóa cho nên, từ mới thành lập về sau, Quảng Nam có nhiều người quen cãi, quen chống đối. Đầu tiên, có lẽ chính những người hay cãi, hay chống đối là bị… đày vào chốn biên thùy xa xôi, hẻo lánh”, nhà văn Nguyễn Văn Xuân phân tích và gọi cụ Nguyễn Văn Lang là “một trong những nhân vật kiệt hiệt”.

Theo thời gian, Quảng Nam đã không còn là “chốn biên thùy xa xôi, hẻo lánh” nữa. Nhưng trên hành trình mở-rộng-về-phương-Nam, như tên gọi của địa danh Quảng Nam, nơi đây kịp gửi lại vài ký ức và cả dấu vết làng để hậu thế nhắc nhớ.

“Vừa trôi vừa trổ bông”

Mở rộng về phương Nam, nên cuộc đi cứ tiếp diễn. Cũng chính nhà văn Nguyễn Văn Xuân đã phân tích thấu đáo, đầy hình ảnh về bước chân mở cõi ấy trong một khảo luận khác, “Khi những lưu dân trở lại”.

Một nhóm người Nam Hà, tranh in trong sách du ký của John Barrow

Một nhóm người Nam Hà, tranh in trong sách du ký của John Barrow

Đoàn người ấy gồm những ai? “Đa số ban đầu là lưu dân, tội đồ, dân Minh Hương, dân nghèo đi tiền phong khai khẩn đất hoang rồi sau đó người Huế (làm chức việc, làm quan) và nông dân Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định xách gươm giáo, mang cuốc, mang cày, dẫn dắt trâu bò theo đường bộ, hay tính chuyện buôn bán theo đường ghe, lần lượt rời bỏ quê hương để vào, trở thành người dân chính thức của miền Nam” (Khi những lưu dân trở lại).

Cứ thế, vùng đất mới phương Nam sung túc, cây ngọt trái hiền sớm dung chứa những bước chân người miền Trung vốn dĩ chịu thương chịu khó. Chịu khó đến nỗi cứ ai có cặp má hóp thì biết là người miền Trung, người xứ Quảng. Nhưng cũng từ đời sống cần lao và tính tình nhẫn nại ấy, phía sau những dấu chân bỏ lại là một vùng đất trù phú. “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn từng ghi nhận, xứ Quảng Nam (kể cả Gia Định) là “đất phì nhiêu nhất thiên hạ”…

Nhưng người Quảng Nam không chỉ “xuất khẩu” nông dân. Tiền nhân còn cung cấp những thầy giáo với số lượng đủ nhiều, đủ lớn cho vùng Trung Trung Bộ. Nhà văn Võ Phiến từng nhìn nhận, nơi ông ở (Bình Định) nổi tiếng nhất là thầy Quảng (Quảng Nam) và thầy Bắc (Bắc Kỳ, Nghệ Tĩnh), dù Bình Định lừng lẫy thời Tây Sơn vì gần kinh đô, có trường thi…

Bình Định đã vậy, thì từ Phú Yên trở vào, nhu cầu có thầy giỏi càng thêm cấp thiết. Nhà Quảng Nam học Nguyễn Văn Xuân dẫn chứng, vùng đất phía nam ấy muốn học thầy Quảng thường có 2 cách. Một, đón thầy Quảng về tại làng, tại tỉnh dạy học. Hai, phải vượt núi, băng ngàn ra Quảng Nam, đơn cử học trò trong Nam từng ra xin thọ giáo cụ Trần Quý Cáp.

Không chỉ để lại dấu vết tại chỗ, tiền nhân xứ Quảng còn biết “đơm hoa kết trái” trên từng chặng dừng nghỉ, giống hình ảnh khóm lục bình trong câu thơ của thi sĩ - nhạc sĩ Đynh Trầm Ca “vừa trôi vừa trổ bông”. Và cũng như lục bình phương Nam, người từ miền Trung luôn biết ơn cố hương, da diết nhớ quê nhà, “…hoa nở tím trên đường trôi dạt/ tỏa chút hương ngan ngát gửi quê nhà” (Đynh Trầm Ca, Phương Nam khúc ca phiêu dạt của khóm lục bình).

Từ phương Nam, ngoái nhìn lại

Nếu từ điểm đến (phương Nam) ngoái nhìn trở lại, sẽ thấy trạm dừng nghỉ trước đó còn có nhiều nét thú vị và đa chiều hơn.

Hoạt cảnh ở Hội An gợi nhớ nông dân xứ Quảng những ngày đầu khai phá. Ảnh: THUẬN TRIỀU

Hoạt cảnh ở Hội An gợi nhớ nông dân xứ Quảng những ngày đầu khai phá. Ảnh: THUẬN TRIỀU

Nhà văn Sơn Nam sau lần “đi rong ở Quảng Nam” khoảng 4 ngày đã chia sẻ rất nhiều cảm xúc và cả những kiến giải mới. Ông bảo, có ra đây mới thấy cụ thể nhiều cách nói, cách phát âm “của Nam Kỳ” nhưng kỳ thực bắt nguồn từ Quảng Nam, như sơn (thay vì san), đồng thanh (đồng thinh), trào vua (triều vua), dõng khí (dũng khí)…

“Điệu nói thơ Lục Vân Tiên phía đồng bằng sông Cửu Long quả là kiểu hò bài chòi Quảng Nam, Bình Thuận. (…) Còn nhiều chuyện đáng ghi nhớ. Nhất là tục cúng vong, nhằm cúng người Chăm khuất mặt và lễ cúng đất mà ở trong Nam những gia đình xưa còn noi theo, gọi cúng Việc lề, hiểu là cúng ông bà quá cố từ ngoài Trung”, nhà văn Sơn Nam viết.

Hơn 4 thế kỷ trước, hình dung đất Quảng Nam cứ hun hút xa, như những câu văn mô tả trong sách “Ô châu cận lục” (Dương Văn An). Huyện Điện Bàn của phủ Triệu Phong được sách ghi nhận “đất đai liền với phương Nam, cương giới bên ngoài châu Ô”. Phần tổng luận cuối sách lại có câu: “Xét miền Ô Lý ta, nối liền với cõi Nam hoang vu…”.

Miền Ô Lý mà sách “Ô châu cận lục” nhắc đến (quãng năm 1555) tính ra đã về với Đại Việt ngót 2,5 thế kỷ, sau cuộc hôn nhân Chiêm - Việt.

Để rồi, thấy thấp thoáng bóng dáng công chúa Huyền Trân trên hành trình ai xuôi vạn lý khi GS. Cao Huy Thuần viết “cả cái đèo Hải Vân cũng chỉ là chiếc cầu rửa chân của một cô công chúa”. Ấy là khi GS. Cao Huy Thuần mượn hình ảnh con đèo được mệnh danh là yết hầu miền Thuận Quảng để ví von về chuyện quật khởi của một xứ Huế nhỏ nhắn, hiền lành.

Qua khỏi đèo, đến Quảng Nam, vùng đất biên thùy thuở xưa cũng chỉ làm “chiếu nghỉ” trong một quãng thời gian. Để rồi, cha ông lại quảy gánh lên đường, tiếp tục mang gươm đi mở cõi…

THUẬN TRIỀU

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/co-mot-chieu-nghi-tren-dam-dai-nam-tien-3324634.html