Con đường thích nghi của nông nghiệp Việt Nam
Đồng bằng sông Cửu Long - vựa lúa của cả nước - đang phải gồng mình trước hạn hán và xâm nhập mặn ngày một khắc nghiệt.

TS. Nguyễn Bình Anh Thư, Trường Y sinh, Thú Y và Khoa học sự sống, Đại học Glasgow, Scotland trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN. Ảnh: TTXVN phát.
Trong bối cảnh ấy, một câu hỏi mang tính sống còn được đặt ra: nền nông nghiệp của một quốc gia lúa nước sẽ trụ vững bằng cách nào giữa bối cảnh biến đổi khí hậu?
Cuộc trao đổi giữa phóng viên TTXVN tại London với Tiến sĩ Nguyễn Bình Anh Thư, Trường Y sinh, thú y và khoa học sự sống, Đại học Glasgow, Scotland, đã gợi mở một lối đi, không phải bằng phép màu công nghệ, mà bằng sự thích nghi có cơ sở khoa học và một khung chính sách phù hợp.
Ý tưởng về một giống cây "toàn năng" - vừa uống ít nước, vừa dửng dưng trước độ mặn - luôn hấp dẫn những ai sốt ruột trước thiên tai. Song khoa học không vận hành theo nhịp của sự nóng vội. Tiến sĩ Anh Thư cho biết "việc tập trung tạo ra một giống cây có thể vừa tiết kiệm nước và vừa chịu mặn sẽ là một thách thức lớn trong ngắn hạn kể cả ở những quốc gia có nền khoa học phát triển".
Thay cho giấc mơ một giống cây trị bách bệnh, con đường khả thi hơn là tạo ra từng giống thích nghi với từng điều kiện canh tác riêng biệt, đặt song hành với các biện pháp thủy lợi quản lý hạn/mặn mà Nhà nước đang tập trung đầu tư. Thích nghi, chứ không phải chinh phục - có lẽ đó mới là ngôn ngữ của một nền nông nghiệp trưởng thành.
Với cây lúa - cây lương thực chủ lực, gắn với an ninh lương thực quốc gia - một hướng đi đáng chú ý là can thiệp vào chính cấu tạo của lá. Theo Tiến sĩ Anh Thư, việc tối ưu số lượng khí khẩu ở lá có thể giảm thoát hơi nước nhưng không giảm năng suất dẫn đến tăng hiệu quả sử dụng nước - đặc tính này sẽ trở nên đặc biệt có lợi trong điều kiện canh tác thiếu nước.
Điều đáng suy ngẫm là tri thức ấy được chắt ra từ các nghiên cứu hợp tác giữa Đại học Sheffield (Vương quốc Anh) và Viện Lúa quốc tế IRRI (Philippines). Một quốc gia không trồng lúa vẫn có thể đóng góp cho khoa học về cây lúa. Nói cách khác, lời giải cho hạt gạo không nhất thiết đến từ nơi trồng lúa, mà đến từ nơi có nền khoa học cơ bản đủ mạnh và biết cách hợp tác.
Ở mặt trận chống mặn, hy vọng đặt vào việc giải mã cơ chế natri trong tế bào. Theo Tiến sĩ Anh Thư, các hướng nghiên cứu về cơ chế vận chuyển tích trữ natri hiệu quả trong tế bào cây hoặc loại thải natri sẽ hứa hẹn trong việc tạo các giống cây trồng chịu mặn.
Một hướng nghiên cứu nền tảng khác đang được đặt nhiều kỳ vọng là nghiên cứu tương quan toàn bộ hệ gene kết hợp phân tích kiểu hình (GWAS) trong điều kiện canh tác bất lợi. Công trình của Wang và cộng sự công bố trên tạp chí Nature phân tích khoảng 3.000 giống lúa đã trở thành nền tảng cho nhiều nghiên cứu tương quan hệ gene và kiểu hình về sau.
Nếu câu chuyện thích nghi thuộc về sự sống còn, thì câu chuyện carbon thuộc về giá trị. Đây là nơi một chi tiết tưởng chỉ dành cho phòng thí nghiệm - khả năng cây trồng hấp thụ và lưu giữ carbon - đã trở thành một lợi thế thương mại.
Theo Tiến sĩ Anh Thư, chính sách của Việt Nam đang "cực kỳ phù hợp" với xu hướng sản xuất nông nghiệp bền vững - tức nông nghiệp thông minh thích ứng khí hậu và nông nghiệp tái sinh - với các biện pháp: tạo ra các giống cây trồng tăng hấp thụ carbon, thay đổi cách canh tác truyền thống ngập nước bằng luân phiên ngập khô xen kẽ hoặc chọn tạo các giống cây trồng thích nghi nhiều hơn với điều kiện khô hạn, góp phần tiết kiệm nước tưới và giảm điều kiện ngập kéo dài, điểm quan trọng trong việc giảm phát thải khí nhà kính.
Những mô hình canh tác đó đang bắt nhịp với chính sách chứng nhận canh tác carbon mà Liên minh châu Âu (EU) ban hành lần đầu ngày 6/12/2024. Theo Tiến sĩ Anh Thư, đây là khung tự nguyện đầu tiên trên toàn EU để chứng nhận hoạt động hấp thụ carbon, canh tác carbon và lưu trữ carbon trong sản phẩm.
Với một nền nông nghiệp xưa nay sống bằng xuất khẩu, đó không phải chuyện của riêng môi trường, mà là chuyện của tấm giấy thông hành. Lợi ích, vì thế, là kép. Việc thực thi các chính sách phù hợp này sẽ giúp sản phẩm nông nghiệp Việt Nam được chào đón cởi mở hơn ở thị trường châu Âu do thỏa mãn các yếu tố canh tác nông nghiệp bền vững, đồng thời nông dân có thể nhận được thêm các lợi ích dựa trên các tín chỉ carbon quy đổi khi thực hiện các mô hình canh tác này.
Nghĩa là ngoài tiền bán lúa gạo như thường lệ, người nông dân canh tác theo lối thuận thiên còn có thêm một nguồn thu mới: bán những tín chỉ carbon mà chính cách canh tác ấy tạo ra. Hạt lúa, khi đó, vừa nuôi người, vừa sinh lời từ phần phát thải đã cắt giảm được. Song theo Tiến sĩ Anh Thư, do đây vẫn là xu thế mới, thách thức chính vẫn là nhu cầu sử dụng trong tương lai, vốn dĩ sẽ cần thêm thời gian để thị trường có thể tiếp nhận và đi vào vận hành hiệu quả.
Mọi đột phá sinh học, dù rực rỡ đến mấy, cũng chỉ là hạt giống nằm trong phòng thí nghiệm nếu thiếu một chính sách đủ tầm để chuyển hóa nó thành lợi ích cho nền kinh tế và người nông dân. Đây là lúc vai trò của Nhà nước trở thành nhân tố quyết định. Triết lý đầu tư, theo Tiến sĩ Anh Thư, cần bắt đầu từ sự cân bằng: Nên cân bằng đầu tư cho nghiên cứu khoa học cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.
Nghiên cứu ứng dụng luôn dựa trên nền tảng từ những nghiên cứu cơ bản. Thế nhưng, phần lớn tri thức cơ bản về kỹ thuật sinh học di truyền thực vật hôm nay đang được tạo ra từ những quốc gia không trồng lúa (châu Âu), hoặc từ những nơi có điều kiện khí hậu hoàn toàn khác Việt Nam (Mỹ, Australia, Hàn Quốc, Nhật Bản,...).
Hệ quả là một nghịch lý: "chiếc áo" khoa học may ở xứ người khó vừa vặn với "tấm thân" nhiệt đới. Bởi vậy, việc tự chủ một chương trình nghiên cứu cơ bản cho chính cây trồng bản địa không còn là tham vọng hàn lâm, mà là điều kiện sống còn.
Như Tiến sĩ Anh Thư khẳng định việc tự chủ một chương trình nghiên cứu cơ bản dành riêng cho các cây trồng chủ lực bản địa trong thực tế điều kiện khí hậu của Việt Nam chắc chắn sẽ mang đến hiệu quả rất lớn đối với ứng dụng. Đó là cách để nền nông nghiệp nước nhà không bị bỏ lại quá xa, và để an ninh lương thực cùng thu nhập của người nông dân có chỗ dựa vững chắc.
Điều đọng lại sau cuộc trao đổi không phải là một danh sách công nghệ cần nhập khẩu về, mà là một cách tiếp cận. Bài toán của Việt Nam không nằm ở việc đuổi kịp ai, mà ở việc tự chủ được tri thức về chính hạt lúa và cánh đồng của mình.
Nguồn Bnews: https://bnews.vn/con-duong-thich-nghi-cua-nong-nghiep-viet-nam/438722.html

