Công bố hai giống lúa mới thích ứng cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Hai giống lúa Nông Dân 1 và Nông Dân 2 được công nhận lưu hành 20 năm tại Đồng bằng sông Cửu Long, nổi bật về năng suất, khả năng thích ứng và tiềm năng phát triển theo từng phân khúc thị trường.

TS. Lê Văn Lâm, Phó Giám đốc Đại học Cần Thơ phát biểu tại sự kiện. Ảnh: Thu Hiền – TTXVN
Ngày 18/8, Viện Mekong (Đại học Cần Thơ) tổ chức Lễ công bố quyết định của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) về việc công nhận lưu hành hai giống lúa mới mang tên Nông Dân 1 và Nông Dân 2.
Hai giống lúa này được phép gieo trồng trong vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long với thời hạn lưu hành 20 năm.
Sự ra đời của giống lúa Nông Dân 1 và Nông Dân 2 là kết quả nổi bật từ quá trình nghiên cứu, chọn lọc và khảo nghiệm được triển khai từ năm 2018 bởi đội ngũ khoa học Đại học Cần Thơ phối hợp với Tổ chức Crop Trust (Cộng hòa Liên bang Đức), các đơn vị khảo nghiệm và bà con nông dân.

Hạt gạo giống lúa Nông Dân 1 có hàm lượng amylose tương đối cao, độ bền gel cứng và độ trắng bạc cao, được định vị trở thành nguồn nguyên liệu phục vụ ngành chế biến thực phẩm. Ảnh: Thu Hiền – TTXVN
Qua đánh giá thực tiễn, cả hai giống đều sở hữu năng suất cao, khả năng chống chịu sâu bệnh vượt trội cùng tính thích nghi rộng. PGS.TS Huỳnh Quang Tín (Viện Mekong) cho biết, hai giống lúa đã trải qua thử nghiệm rộng rãi tại nhiều vùng sinh thái từ Đồng bằng sông Cửu Long, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên đến các tỉnh miền núi phía Bắc. Kết quả ghi nhận hai giống lúa vẫn phát triển tốt trên vùng đất phèn Tứ giác Long Xuyên, chịu được cái rét vụ Đông Xuân ở miền Bắc cũng như điều kiện hạn hán tại Tây Nguyên.
“Kết quả tổng hợp từ các vùng sinh thái cho thấy giống lúa Nông Dân 1 và Nông Dân 2 đều thể hiện sự phù hợp cao với điều kiện thổ nhưỡng và tập quán canh tác của miền Tây Nam Bộ”, PGS.TS Huỳnh Quang Tín nhận định.
Mặc dù cùng thể hiện ưu thế thích ứng sinh thái, Nông Dân 1 và Nông Dân 2 có sự phân hóa rõ rệt về đặc tính chất lượng, đòi hỏi định hướng phát triển riêng biệt theo từng phân khúc thị trường.

Đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật trao chứng nhận cấp phép lưu hành giống lúa Nông Dân 1 và Nông Dân 2 cho các đơn vị tham gia nghiên cứu. Ảnh: Thu Hiền - TTXVN
Theo bà Trần Thị Mỹ Hạnh, chuyên viên Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, đối với giống Nông Dân 1, thời gian sinh trưởng đạt khoảng 100–105 ngày trong vụ Đông Xuân và 97–102 ngày trong vụ Hè Thu; năng suất khảo nghiệm đạt 6,29–7,44 tấn/ha (Đông Xuân) và 4,90–6,70 tấn/ha (Hè Thu). Hạt gạo dài khoảng 6,98–7,02 mm. Điểm đặc thù của Nông Dân 1 là hàm lượng amylose tương đối cao (26,51–27,3%), độ bền gel cứng và độ trắng bạc cao.
Do đó, thay vì hướng đến phân khúc gạo mềm dẻo cho bữa ăn thông thường, Nông Dân 1 nên được định vị trở thành nguồn nguyên liệu phục vụ ngành chế biến thực phẩm như sản xuất bún, bánh, mì, bánh tráng và bột gạo. Đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đề nghị đơn vị nghiên cứu sớm tổ chức hội thảo chuyên đề kết nối với các doanh nghiệp thu mua, xay xát và chế biến thực phẩm để trực tiếp đánh giá mẫu gạo, bột gạo và các sản phẩm chế biến thử nghiệm. Việc mở rộng diện tích Nông Dân 1 cần tiến hành thận trọng, gắn liền với hợp đồng tiêu thụ và liên kết vùng nguyên liệu tại các hợp tác xã nhằm kiểm soát chất lượng đồng nhất.

Giống lúa Nông Dân 1 đã được Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cấp phép lưu hành trong vòng 20 năm. Ảnh: Thu Hiền – TTXVN
Trong khi đó, bà Trần Thị Mỹ Hạnh đánh giá, giống Nông Dân 2 sở hữu thời gian sinh trưởng ngắn hơn, đạt 95–100 ngày trong vụ Đông Xuân và 100–105 ngày trong vụ Hè Thu; năng suất khảo nghiệm đạt 6,04–6,92 tấn/ha (Đông Xuân) và 4,75–6,10 tấn/ha (Hè Thu). Giống có hạt gạo dài (6,81–6,91 mm), hàm lượng amylose thấp (15,2–16,4%), cơm mềm, có mùi thơm nhẹ và màu cơm trắng. Những đặc tính này đáp ứng tốt xu hướng tiêu dùng gạo chất lượng cao và có tiềm năng lớn phục vụ xuất khẩu.
Định hướng phát triển Nông Dân 2, theo đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, đơn vị nghiên cứu nên tập trung vào việc tiếp tục hoàn thiện chất lượng theo yêu cầu riêng của từng thị trường tiêu thụ, kiểm soát độ ổn định mùi thơm, độ dẻo cơm, tỷ lệ gạo nguyên và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Đồng thời, phối hợp cùng các doanh nghiệp xuất khẩu gạo nấu thử, đánh giá cảm quan và gửi mẫu thăm dò tại một số thị trường mục tiêu, đồng thời xây dựng mô hình liên kết sản xuất tại các vùng đáp ứng chuẩn truy xuất nguồn gốc.

Giống lúa Nông Dân 2 có hạt gạo dài (6,81–6,91 mm), hàm lượng amylose thấp, cơm mềm, có mùi thơm nhẹ và màu cơm trắng, đáp ứng tốt xu hướng tiêu dùng gạo chất lượng cao và có tiềm năng lớn phục vụ xuất khẩu. Ảnh: Thu Hiền - TTXVN
Đại diện cơ quan quản lý, bà Trần Thị Mỹ Hạnh nhấn mạnh, việc đưa hai giống lúa mới vào sản xuất cần đi đôi với việc hoàn thiện quy trình canh tác riêng, áp dụng các kỹ thuật tiên tiến như gieo sạ thưa, bón phân cân đối và tưới ngập khô xen kẽ nhằm tiết kiệm chi phí và giảm phát thải. Bên cạnh đó, các đơn vị cần duy trì theo dõi phản ứng của giống trước rầy nâu, bệnh đạo ôn, bệnh bạc lá; xây dựng hệ thống nhân giống đạt chuẩn và chủ động liên kết chuỗi giá trị chặt chẽ giữa nhà khoa học, địa phương, hợp tác xã và doanh nghiệp.
“Quan điểm phát triển xuyên suốt là lấy nhu cầu thị trường làm trung tâm, đánh giá hiệu quả kinh tế trên toàn chuỗi giá trị chứ không chỉ dựa vào năng suất đơn thuần, tránh tình trạng mở rộng diện tích tự phát”, bà Hạnh lưu ý.
Sự ra đời và định hình phân khúc rõ ràng cho Nông Dân 1 và Nông Dân 2 được kỳ vọng sẽ gia tăng giá trị, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng lúa, góp phần thúc đẩy ngành hàng lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long phát triển bền vững trong thời gian tới.

