Từ những ruộng lúa kém hiệu quả đến mô hình lúa - tôm bền vững
Mô hình kết hợp trồng lúa - nuôi tôm thẻ chân trắng trên những diện tích đất lúa Hè Thu sản xuất kém hiệu quả đang mở ra hướng đi mới tại thành phố Huế...

Ngày 18/8/2026, Trung tâm Khuyến Nông (Sở NNMT Tp. Huế) tổ chức Hội nghị Tổng kết mô hình hỗ trợ ừng dụng kỹ thuật xen canh Lúa - Tôm...
Mô hình kết hợp trồng lúa - nuôi tôm thẻ chân trắng trên những diện tích đất lúa Hè Thu sản xuất kém hiệu quả đang mở ra hướng đi mới trong khai thác giá trị đất đai tại một số vùng có điều kiện phù hợp của thành phố Huế. Tuy nhiên, để nhân rộng mô hình cần được sự quan tâm của chính quyền địa phương trong việc rà soát, quy hoạch vùng đảm bảo điều kiện để hình thành các vùng nuôi tập trung nhằm hạn chế việc người dân phát triển tự phát theo phòng trào. Trong đó, các yếu tố như: chủ động nguồn nước, kiểm soát mặn - phèn, lựa chọn mật độ nuôi phù hợp và tổ chức sản xuất theo vùng gắn với liên kết theo chuổi là những điều kiện then chốt để mô hình phát triển ổn định, hiệu quả và bền vững.

Triển khai mô hình xen canh lúa - tôm tại xã Đan Điền, Tp. Huế
Từ những ruộng lúa kém hiệu quả đến mô hình đa giá trị
Trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng tác động rõ nét đến sản xuất nông nghiệp, việc tìm kiếm các mô hình thích ứng, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất và nước đang trở thành yêu cầu quan trọng. Đối với những diện tích đất lúa một vụ, đặc biệt là những vùng sản xuất vụ Hè Thu kém hiệu quả, thường xuyên chịu ảnh hưởng của phèn, mặn hoặc có nguy cơ bỏ hoang, mô hình lúa - tôm có thể tạo thêm một hướng sinh kế cho người dân.
Qua triển khai thực tế, mô hình nuôi tôm kết hợp với sản xuất lúa bước đầu cho thấy khả năng thích nghi của tôm trong điều kiện độ mặn thấp. Hệ thống ruộng tại các điểm thực hiện đã được thiết kế tương đối phù hợp, có mương bao quanh giúp duy trì môi trường nước và tạo không gian cho tôm sinh trưởng.
Một thuận lợi đáng chú ý là trong ruộng có nguồn thức ăn tự nhiên, nhờ đó trong giai đoạn đầu người nuôi không phải phụ thuộc hoàn toàn vào thức ăn công nghiệp. Đây là yếu tố có ý nghĩa đối với mô hình nuôi mật độ thấp, vừa giúp giảm chi phí, vừa phù hợp với định hướng khai thác các nguồn lực tự nhiên sẵn có.
Sau 70 ngày nuôi, tôm đạt trọng lượng trung bình khoảng 47 - 71 con/kg, tỷ lệ sống từ 50 - 67%. Theo đánh giá, sau khoảng 3 tháng, tôm có thể đạt trọng lượng trung bình 40 - 52 con/kg, tỷ lệ sống ước khoảng 46 - 62%, sản lượng dự kiến khoảng 10.709 kg, năng suất trung bình khoảng 595 kg/ha.
Hiệu quả kinh tế dự kiến của mô hình khoảng 19 triệu đồng/ha. Đây chưa phải là con số đủ để khẳng định mô hình có hiệu quả kinh tế cao, nhưng là tín hiệu tích cực về khả năng gia tăng giá trị trên những diện tích đất lúa có hiệu quả thấp.
Quan trọng hơn, mô hình đặt ra một cách tiếp cận mới: thay vì chỉ nhìn đất lúa dưới góc độ một vụ sản xuất, có thể nghiên cứu tổ chức hệ thống sản xuất phù hợp để vừa duy trì cây lúa, vừa khai thác thêm giá trị từ thủy sản, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng đất và đa dạng hóa thu nhập cho nông hộ.

Nuôi tôm trong ruộng lúa có đặc thù khác với nuôi tôm ở đầm phá hay ao nuôi trên cát...
Chủ động nguồn nước - điều kiện quyết định thành công
Bên cạnh những tín hiệu tích cực, thực tế triển khai cũng cho thấy mô hình lúa - tôm còn nhiều rủi ro, trong đó nguồn nước là yếu tố có tính quyết định.
Tại một số điểm, đất ruộng và nguồn nước bị nhiễm phèn, đồng thời còn tồn dư phân bón và hóa chất sử dụng trong quá trình sản xuất lúa. Vì vậy, khâu cải tạo ruộng trước khi thả tôm đòi hỏi nhiều thời gian, công sức. Nếu không xử lý tốt, môi trường nước dễ biến động, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và khả năng sống của tôm.
Đặc biệt, nuôi tôm trong ruộng lúa có đặc thù khác với nuôi tôm ở đầm phá hay ao nuôi trên cát. Người nuôi khó chủ động hoàn toàn về mực nước, cấp - thoát nước và xử lý môi trường. Nguồn nước của ruộng nuôi lại phụ thuộc vào hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất lúa cũng như diễn biến thủy văn của từng khu vực.
Thực tế tại mô hình cho thấy rủi ro này không thể xem nhẹ. Có trường hợp nguồn nước bị nhiễm mặn trong khi không có đủ nguồn nước ngọt để bổ sung, khiến toàn bộ diện tích lúa của hai hộ tham gia mô hình bị thiệt hại.
Đây là bài học quan trọng đối với quá trình nhân rộng. Một mô hình dù có hiệu quả ở một địa điểm cụ thể cũng không đồng nghĩa với việc mọi diện tích đất lúa đều phù hợp. Điều kiện đất, nước, địa hình, hệ thống thủy lợi và diễn biến mặn - phèn có thể khác nhau ngay giữa những khu vực tương đối gần nhau.
Kết quả sản xuất lúa giữa các hộ cũng có sự chênh lệch. Những diện tích chịu tác động đồng thời của mặn và phèn có tốc độ sinh trưởng và năng suất thấp. Qua theo dõi, đối với khu vực có độ mặn trên 4‰, lúa gieo sạ có thể bị thiệt hại hoàn toàn. Điều này cho thấy việc bố trí cây lúa trong hệ thống lúa - tôm cần được tính toán trên cơ sở điều kiện môi trường cụ thể, thay vì áp dụng một công thức chung cho mọi khu vực.
Nuôi tôm mật độ thấp, giữ đất lúa và giảm áp lực môi trường
Từ thực tế triển khai, định hướng phù hợp không phải là chuyển mạnh sang nuôi tôm thâm canh mà là phát triển mô hình theo hướng quảng canh cải tiến, mật độ thấp.
Theo khuyến cáo, mật độ tôm thẻ chân trắng nên duy trì ở mức không quá 5 con/m². Việc chạy theo mật độ cao, tăng đầu tư thức ăn và áp dụng các biện pháp nuôi thâm canh, bán thâm canh không phù hợp với điều kiện ruộng lúa, bởi các hình thức này đòi hỏi khả năng kiểm soát môi trường, mực nước, cấp - thoát nước và xử lý chất thải cao hơn.
Tôm giống cần được thuần hóa kỹ về độ mặn trước khi thả. Độ mặn giữa môi trường thuần và môi trường ruộng không nên chênh lệch quá 5‰. Trường hợp thả tôm post, cần có thời gian vèo thích hợp, tối thiểu khoảng 7 ngày trước khi đưa tôm ra ruộng nuôi.
Việc tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên trong tháng đầu cũng là giải pháp quan trọng. Thức ăn thường chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí nuôi tôm, vì vậy tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên có thể góp phần giảm chi phí, hạn chế áp lực lên môi trường và nâng cao hiệu quả của mô hình.
Đối với cây lúa, cần ưu tiên những giống có khả năng thích nghi với điều kiện đất và nước của từng vùng. Ở những diện tích phù hợp, có thể nghiên cứu tận dụng lúa tái sinh để giảm chi phí sản xuất. Những diện tích có độ mặn thấp hơn nhưng lúa Hè Thu sinh trưởng kém cũng có thể xem xét giải pháp này thay vì tiếp tục đầu tư cao trong điều kiện hiệu quả thấp.
Mục tiêu cuối cùng không phải là tối đa hóa sản lượng của riêng cây lúa hay con tôm, mà xây dựng một hệ thống sản xuất có khả năng hỗ trợ lẫn nhau. Vụ lúa có thể góp phần hấp thu một phần chất dinh dưỡng trong hệ thống, đồng thời tạo môi trường và nguồn thức ăn tự nhiên cho vụ nuôi tiếp theo. Ngược lại, việc khai thác hợp lý diện tích ruộng trong thời gian phù hợp giúp gia tăng giá trị sử dụng đất.
Đó cũng chính là nền tảng của tư duy nông nghiệp tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu: sử dụng tiết kiệm tài nguyên, giảm đầu vào không cần thiết và hạn chế chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất.

Ông Châu Ngọc Phi, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông (Sở NNMT Tp. Huế) phát biểu tại Hôi nghị tổng kết mô hình hỗ trợ ừng dụng kỹ thuật xen canh Lúa - Tôm...
“Nhân rộng có điều kiện” để bảo đảm phát triển bền vững
Kết quả bước đầu cho thấy mô hình lúa - tôm có tiềm năng, nhưng việc nhân rộng mô hình cần được thực hiện một cách bài bản từ quy hoạch, quản lý vùng nuôi đến hoàn thiện quy trình nuôi phù hợp với từng chân đất. Định hướng phù hợp trong thời gian tới là “nhân rộng có điều kiện”, lấy khả năng thích nghi của hệ sinh thái và điều kiện sản xuất thực tế làm tiêu chí quyết định.
Trước khi triển khai, cần đánh giá cụ thể chất đất, nguồn nước, mức độ nhiễm mặn, nhiễm phèn và khả năng cấp – thoát nước. Chỉ lựa chọn những diện tích đáp ứng các điều kiện cần thiết; không tự phát chuyển đổi đất lúa sang nuôi tôm khi chưa có đánh giá đầy đủ.
Đặc biệt, cần ưu tiên đất lúa một vụ, nơi sản xuất lúa Hè Thu kém hiệu quả nhưng vẫn có khả năng duy trì vụ lúa phù hợp. Những vùng thường xuyên bị xâm nhập mặn trong thời kỳ sinh trưởng của lúa, không có nguồn nước ngọt bổ sung hoặc không chủ động được cấp - thoát nước cần được loại khỏi phạm vi nhân rộng.
Đối với những khu vực có nguy cơ mặn cao, cần nghiên cứu mô hình luân canh một vụ lúa - một vụ tôm thay vì cố duy trì sản xuất lúa trong điều kiện không phù hợp. Cách tiếp cận này vừa giảm rủi ro, vừa khai thác lợi thế của từng thời vụ và điều kiện tự nhiên.
Song song với đó, cần tổ chức sản xuất theo vùng thông qua hợp tác xã, tổ hợp tác. Khi nhiều hộ cùng tham gia một vùng sản xuất, việc thống nhất lịch thời vụ, quản lý nguồn nước, kiểm soát dịch bệnh, áp dụng quy trình kỹ thuật và liên kết tiêu thụ sản phẩm sẽ thuận lợi hơn nhiều so với sản xuất riêng lẻ.
Về lâu dài, mô hình cần được đặt trong một quy hoạch sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu, gắn với thủy lợi, bảo vệ môi trường và thị trường. Khi đầu ra sản phẩm được quan tâm ngay từ đầu, người dân sẽ có thêm động lực đầu tư theo hướng an toàn, thay vì chạy theo sản lượng.
Hướng tới hệ sinh thái sản xuất nông nghiệp bền vững
Mô hình lúa - tôm ở Huế đang cho thấy một điều quan trọng: hiệu quả của một mô hình nông nghiệp không chỉ được đo bằng sản lượng hay lợi nhuận của một vụ sản xuất, mà còn phải tính đến khả năng sử dụng tài nguyên lâu dài, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và mức độ an toàn của môi trường sản xuất.
Với tôm, cần kiểm soát mật độ, thức ăn và chất lượng nước. Với lúa, cần lựa chọn giống phù hợp và bố trí thời vụ theo diễn biến mặn - phèn. Với đất và nước, cần khai thác trong giới hạn chịu tải của hệ sinh thái. Và với người dân, cần chuyển từ sản xuất đơn lẻ sang liên kết cộng đồng, cùng quản lý nguồn nước và cùng chia sẻ trách nhiệm bảo vệ môi trường.
Đây cũng là cơ sở để ngành nông nghiệp và chính quyền địa phương xây dựng hướng dẫn kỹ thuật phù hợp với điều kiện riêng của Huế, xác định rõ vùng có thể áp dụng, điều kiện cần thiết và những khu vực không nên triển khai.
Theo ông Châu Ngọc Phi, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông (Sở NNMT Tp. Huế) nhận định, nếu được tổ chức đúng hướng, mô hình lúa - tôm không chỉ giúp tận dụng những diện tích đất lúa sản xuất kém hiệu quả mà còn có thể trở thành một mắt xích trong hệ thống nông nghiệp đa giá trị, tuần hoàn và thích ứng. Ngược lại, nếu phát triển tự phát, thiếu kiểm soát nguồn nước và chạy theo mật độ nuôi cao, mô hình có thể làm gia tăng rủi ro cho cả cây lúa, con tôm và môi trường.
Vì vậy, định hướng phát triển bền vững cần được đặt lên hàng đầu: không nhân rộng bằng mọi giá, mà nhân rộng đúng nơi, đúng điều kiện và đúng kỹ thuật. Mỗi vùng đất cần được đánh giá trên cơ sở khả năng chịu tải của hệ sinh thái; mỗi hộ dân cần được hướng dẫn đầy đủ trước khi đầu tư; mỗi vùng sản xuất cần có cơ chế quản lý nguồn nước và liên kết cộng đồng.
Từ những kết quả bước đầu, lúa - tôm có thể được xem là một hướng thử nghiệm đáng quan tâm trong quá trình tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở những vùng đất phù hợp của Huế. Thành công của mô hình trong tương lai sẽ không chỉ nằm ở việc tạo thêm bao nhiêu tấn tôm hay bao nhiêu triệu đồng thu nhập, mà quan trọng hơn là xây dựng được một phương thức sản xuất hiệu quả về kinh tế, an toàn về môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và bền vững cho sinh kế của người dân./.
Một số hình ảnh Hôi nghị tổng kết mô hình hỗ trợ ứng dụng kỹ thuật xen canh Lúa - Tôm tại Huế:




