Công nghiệp vật liệu, cơ khí chế tạo: Nền tảng thực hiện 2 mục tiêu trăm năm
Công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí sẽ là nền tảng để thực hiện các mục tiêu lớn của đất nước đến năm 2030 và năm 2045; là cơ sở để triển khai các chương trình, dự án chiến lược quốc gia.
Sáng 15/6, tại trụ sở Quốc hội Việt Nam, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đã chủ trì Hội thảo “Công nghiệp vật liệu và Công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới”. Hội thảo do Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức.
Hội thảo được tổ chức trong một bối cảnh đặc biệt, đúng vào thời điểm đặc biệt quan trọng để nhìn nhận lại một cách toàn diện vị trí, vai trò, thực trạng phát triển, những khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn và đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm phát triển công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo trở thành những ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp gốc của nền kinh tế, tạo nền tảng vật chất cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nâng cao năng lực tự chủ quốc gia.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đã chủ trì Hội thảo “Công nghiệp vật liệu và Công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới”.
Nền tảng thực hiện 2 mục tiêu trăm năm
Trình bày báo cáo “Công nghiệp vật liệu và Công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới”, đồng chí Nguyễn Thanh Hải, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đã nhấn mạnh vị trí, vai trò của công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo trong giai đoạn phát triển mới.
Theo đồng chí Nguyễn Thanh Hải, trong lịch sử phát triển của các quốc gia công nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc, công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí luôn được coi là nền tảng của nền sản xuất hiện đại.
Đối với Việt Nam, công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí không chỉ là các ngành sản xuất thông thường mà còn là nền tảng để thực hiện các mục tiêu lớn của đất nước đến năm 2030 và năm 2045; là cơ sở để triển khai các chương trình, dự án chiến lược quốc gia như đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, điện hạt nhân, công nghiệp bán dẫn, công nghiệp quốc phòng, trung tâm dữ liệu quốc gia, hạ tầng số, năng lượng tái tạo và các ngành công nghệ chiến lược khác.

Đồng chí Nguyễn Thanh Hải, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trưởng của Quốc hội phát biểu tại hội thảo.
Theo tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Thông báo số 66-TB/VPTW ngày 25/5/2026, công nghiệp vật liệu cần được xác định là ngành công nghiệp nền tảng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; là yếu tố đầu vào thiết yếu, điều kiện tiên quyết để phát triển các lĩnh vực kinh tế quan trọng, các ngành công nghệ chiến lược và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường. Trong giai đoạn phát triển mới, cần có nhận thức và cách tiếp cận mới đối với công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo; coi đây không chỉ là các ngành sản xuất mà còn là nền tảng của năng lực công nghệ quốc gia, năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tóm tắt những thành tựu đạt được của ngành công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo sau 40 năm đổi mới, đồng chí Nguyễn Thanh Hải cho biết, công nghiệp vật liệu Việt Nam đã có bước phát triển quan trọng, hình thành tương đối đầy đủ hệ sinh thái sản xuất vật liệu từ vật liệu xây dựng, vật liệu kim loại, vật liệu hóa chất, vật liệu dệt may, vật liệu nhựa đến một số vật liệu công nghệ cao.
"Ngành vật liệu xây dựng đã trở thành một trong những ngành công nghiệp có quy mô lớn nhất của nền kinh tế. Hiện nay, sản lượng sản xuất hằng năm đạt khoảng: 125 triệu tấn xi măng; 150 triệu m³ bê tông; 23 triệu tấn thép xây dựng; 830 triệu m² gạch ốp lát; 300 triệu m² kính xây dựng. Doanh thu toàn ngành vật liệu xây dựng ước khoảng 50 tỷ USD/năm, chiếm khoảng 11-12% GDP và tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Việt Nam hiện thuộc nhóm các quốc gia dẫn đầu thế giới về sản xuất xi măng và gạch ốp lát; nhiều sản phẩm vật liệu xây dựng đã xuất khẩu tới hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ", đồng chí Nguyễn Thanh Hải thông tin.

Đồng chí Nguyễn Thanh Hải nhấn mạnh, đối với Việt Nam, công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí không chỉ là các ngành sản xuất thông thường mà còn là nền tảng để thực hiện các mục tiêu lớn của đất nước đến năm 2030 và năm 2045.
Đối với công nghiệp luyện kim, ngành thép Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc. Từ vị trí thứ 24 thế giới về sản xuất thép thô năm 2015, Việt Nam đã vươn lên nhóm 15 quốc gia sản xuất thép lớn nhất thế giới. Nhiều tổ hợp luyện kim quy mô lớn đã được hình thành như Hòa Phát Dung Quất, Formosa Hà Tĩnh, Posco Việt Nam, Nghi Sơn...
Trong lĩnh vực vật liệu phục vụ dệt may và da giày, Việt Nam đã trở thành một trong những trung tâm sản xuất lớn của thế giới. Kim ngạch xuất khẩu dệt may thường xuyên đạt trên 40 tỷ USD/năm, xuất khẩu da giày đạt trên 25 tỷ USD/năm, tạo việc làm cho hàng triệu lao động.
Trong lĩnh vực vật liệu gỗ và gỗ công nghiệp, Việt Nam hiện đứng trong nhóm các quốc gia xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất thế giới với kim ngạch xuất khẩu khoảng 15-17 tỷ USD/năm. Một số lĩnh vực vật liệu mới bước đầu hình thành năng lực nghiên cứu và ứng dụng như vật liệu nano, vật liệu composite, vật liệu graphene, vật liệu sinh học, vật liệu tái chế và vật liệu xanh.
Ngành công nghiệp gốc, giữ vai trò trung tâm
Trong khi đó, với ngành công nghiệp cơ khí, đây là ngành công nghiệp gốc, giữ vai trò trung tâm trong việc chuyển hóa các nguồn lực vật chất thành máy móc, thiết bị, phương tiện sản xuất và các sản phẩm phục vụ đời sống xã hội.
Sau hơn 7 năm triển khai Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam theo Quyết định số 319/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngành cơ khí đã đạt được một số kết quả tích cực.
Nhiều doanh nghiệp cơ khí lớn đã được hình thành và phát triển như: THACO, VEAM, LILAMA, PTSC, Doosan Vina, các doanh nghiệp cơ khí thuộc Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam và các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực quốc phòng.
Năng lực chế tạo trong nước từng bước được nâng lên, đặc biệt trong các lĩnh vực: Thiết bị xi măng; thiết bị nhiệt điện; thiết bị thủy điện; kết cấu thép siêu trường, siêu trọng; thiết bị dầu khí; thiết bị nâng hạ; đóng tàu; ô tô và linh kiện ô tô; một số thiết bị điện.
Một số doanh nghiệp đã tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu trong các lĩnh vực ô tô, xe máy, điện tử, thiết bị điện và công nghiệp hỗ trợ. Ngành cơ khí hiện tạo việc làm cho hàng triệu lao động, đóng góp quan trọng cho khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo - khu vực hiện chiếm khoảng 24-25% GDP của nền kinh tế.


Các đại biểu tham dự hội thảo.
Mặc dù có bước phát triển đáng kể nhưng nhìn tổng thể, ngành vật liệu xây dựng và ngành cơ khí Việt Nam vẫn chưa thực sự trở thành ngành công nghiệp nền tảng của nền kinh tế. Phần lớn, nhận thức về vai trò của công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí chưa thực sự tương xứng với vai trò là ngành công nghiệp nền tảng và công nghiệp gốc; thiếu chiến lược tổng thể mang tính quốc gia; hệ thống thể chế, chính sách còn phân tán; thiếu cơ chế đủ mạnh để hình thành các doanh nghiệp dẫn dắt quốc gia; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu; hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa…
Nhiệm vụ chiến lược quốc gia
Đồng chí Nguyễn Thanh Hải cho biết, theo định hướng của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, phát triển công nghiệp vật liệu trong giai đoạn tới cần được tổ chức theo ba nhóm lớn gồm: nhóm vật liệu cơ bản; nhóm vật liệu chiến lược; nhóm vật liệu tương lai.
Trong đó: nhóm vật liệu cơ bản phải được duy trì và nâng cấp về công nghệ, chất lượng và năng lực cạnh tranh; nhóm vật liệu chiến lược cần được tập trung nguồn lực để tạo đột phá, phục vụ trực tiếp các ngành công nghệ chiến lược, các dự án trọng điểm quốc gia và yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh; nhóm vật liệu tương lai cần được ưu tiên nghiên cứu, chuẩn bị từ sớm nhằm tạo nền tảng cho phát triển dài hạn của đất nước trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu hướng công nghệ mới trên thế giới.
Trên cơ sở yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường cho rằng, cần tập trung phát triển ba nhóm vật liệu gồm: vật liệu cơ bản, vật liệu chiến lược và vật liệu tương lai; đồng thời ưu tiên các sản phẩm cơ khí công nghệ cao phục vụ bán dẫn, AI, robot, năng lượng mới, điện hạt nhân, quốc phòng, đường sắt tốc độ cao và các ngành công nghệ chiến lược khác.
Cùng với đó, hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí; khẩn trương xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Chiến lược phát triển công nghiệp cơ khí, chế tạo trong giai đoạn mới; đồng thời rà soát, sửa đổi các quy định về đầu tư, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn - quy chuẩn, khoáng sản, công nghiệp hỗ trợ, thuế, tín dụng và các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ; nghiên cứu xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm và Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng.
Đáng chú ý, đồng chí Nguyễn Thanh Hải đề xuất, cần hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và đội ngũ chuyên gia; đồng thời gắn phát triển công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí với các chương trình, dự án chiến lược quốc gia như đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, điện hạt nhân, công nghiệp bán dẫn, công nghiệp quốc phòng, trung tâm dữ liệu quốc gia, hạ tầng số quốc gia, năng lượng tái tạo và các ngành công nghệ chiến lược khác.
Đồng chí Nguyễn Thanh Hải khẳng định, trong thế kỷ XXI, cạnh tranh giữa các quốc gia trước hết là cạnh tranh về khoa học công nghệ, vật liệu chiến lược và năng lực chế tạo. Vì vậy, phát triển công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo cần được xác định là một nhiệm vụ chiến lược quốc gia, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn phát triển mới.
Công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí không chỉ là các ngành sản xuất thông thường mà còn là nền tảng để thực hiện các mục tiêu lớn của đất nước đến năm 2030 và năm 2045; là cơ sở để triển khai các chương trình, dự án chiến lược quốc gia như đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, điện hạt nhân, công nghiệp bán dẫn, công nghiệp quốc phòng, trung tâm dữ liệu quốc gia, hạ tầng số, năng lượng tái tạo và các ngành công nghệ chiến lược khác.











