Công trình xây dựng trước thách thức nắng nóng cực đoan
Nắng nóng kéo dài, nhiệt độ tăng cao và những diễn biến khó lường của biến đổi khí hậu đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về khả năng chống chịu nhiệt của các công trình xây dựng.

Khả năng chống nóng cần được tính toán ngay từ khâu thiết kế, thay vì chỉ tìm cách khắc phục khi công trình đã đưa vào sử dụng. Ảnh: Quang Thái
Hoàn thiện tiêu chuẩn, mở rộng khả năng chống chịu nhiệt
Trong năm 2026, từ tháng 3 - 7, miền Bắc ghi nhận 9 đợt nắng nóng diện rộng, cao hơn số đợt trong cả năm 2025. Tổng số ngày nắng nóng trung bình đạt khoảng 35 ngày; riêng Hà Nội ghi nhận 40 ngày. Nhiều trạm quan trắc ghi nhận mức nhiệt cao vượt kỷ lục. Thực tế này cho thấy nắng nóng không còn là vấn đề thời tiết đơn thuần mà đang trở thành thách thức đối với thiết kế, xây dựng và vận hành công trình.
Khi nhiệt độ ngoài trời tăng cao, các bề mặt mái, tường và hệ thống cửa kính có thể hấp thụ, truyền nhiệt vào không gian bên trong, làm gia tăng nhu cầu sử dụng điều hòa không khí. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự thoải mái, sức khỏe của người sử dụng mà còn làm tăng chi phí điện năng, gây áp lực lên hệ thống cung cấp năng lượng. Vì vậy, khả năng chống nóng cần được tính toán ngay từ khâu thiết kế, thay vì chỉ tìm cách khắc phục khi công trình đã đưa vào sử dụng.
Theo Phó Viện trưởng Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng Vũ Văn Dũng, Việt Nam đã có các quy định liên quan đến sử dụng năng lượng hiệu quả trong công trình từ khá sớm, từ khoảng 20 năm trước (bắt đầu từ năm 2005 với Tiêu chuẩn TCXDVN 09:2005, sau đó thay thế bằng TCVN 17:2017, và hiện nay là QCVN 04:2016 cùng với thông tư số 61).
Tuy nhiên, theo ông Vũ Văn Dũng, phạm vi điều chỉnh của các quy định hiện hành vẫn còn hạn chế, chưa bao quát đầy đủ những công trình không sử dụng điều hòa không khí hoặc những tình huống thời tiết cực đoan. Đây là khoảng trống cần được nghiên cứu, bổ sung nếu muốn nâng cao khả năng chống chịu nhiệt của công trình trên diện rộng.
Việc hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn cần có lộ trình, dựa trên cơ sở dữ liệu khoa học và điều kiện khí hậu đặc thù của Việt Nam. Quy chuẩn về các vùng khí hậu sử dụng trong xây dựng là một căn cứ quan trọng để lựa chọn giải pháp thiết kế, tính toán khả năng cách nhiệt và tiết kiệm năng lượng phù hợp với từng khu vực. Bên cạnh đó, tiêu chuẩn TCVN 5687:2024 về thông gió và điều hòa không khí cũng cung cấp cơ sở tham khảo cho việc thiết kế điều kiện nhiệt trong nhà.
Dù vậy, các quy định hiện nay vẫn cần được rà soát để thích ứng tốt hơn với những đợt nắng nóng cực đoan và các kịch bản biến đổi khí hậu. Những ngưỡng nhiệt độ được xác định trong điều kiện thông thường có thể không còn phù hợp khi nhiệt độ ngoài trời tăng cao kéo dài. Đặc biệt, trẻ em, người cao tuổi và người mắc bệnh nền có thể chịu tác động lớn hơn khi môi trường trong nhà không bảo đảm điều kiện nhiệt phù hợp.
Theo ông Dũng, vấn đề này không chỉ thuộc phạm vi quản lý của ngành xây dựng mà cần sự phối hợp của nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục và y tế, nhằm xác định yêu cầu phù hợp đối với các không gian sử dụng đặc thù. Chẳng hạn, trường học, cơ sở chăm sóc sức khỏe và những công trình phục vụ nhóm người dễ bị tổn thương cần được xem xét trên cơ sở nhu cầu sử dụng thực tế, thay vì chỉ áp dụng một ngưỡng chung.
Cùng với việc mở rộng phạm vi tiêu chuẩn, bài toán chi phí cũng cần được tính toán. Chi phí đầu tư ban đầu cho vật liệu cách nhiệt, hệ thống che nắng và các giải pháp kỹ thuật có thể tăng lên, nhưng nếu được thiết kế hợp lý, công trình có thể giảm nhu cầu làm mát và tiết kiệm chi phí vận hành trong dài hạn. Do đó, việc đánh giá hiệu quả cần tính đến toàn bộ vòng đời công trình, thay vì chỉ so sánh chi phí xây dựng ban đầu.
Thiết kế thụ động, giải pháp từ kiến trúc truyền thống
Từ góc độ kiến trúc, PGS.TS.KTS Lê Thị Hồng Na, giảng viên Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, chống chịu nhiệt vốn là vấn đề quan trọng đối với công trình xây dựng tại Việt Nam, quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm. Kinh nghiệm từ kiến trúc truyền thống cho thấy, cha ông đã biết tận dụng điều kiện tự nhiên để cải thiện môi trường sống mà không phụ thuộc nhiều vào thiết bị cơ khí.
Các giải pháp như lựa chọn vị trí xây dựng, tổ chức hình khối công trình, xác định hướng nhà, bố trí không gian, tạo bóng râm, cách nhiệt và thông gió tự nhiên đều thuộc nhóm thiết kế thụ động. Khi được tính toán đồng bộ, những giải pháp này giúp hạn chế bức xạ mặt trời, tăng khả năng lưu thông không khí và giảm lượng nhiệt tích tụ trong nhà.
Theo PGS.TS.KTS Lê Thị Hồng Na, trong điều kiện khí hậu trước đây, nhiều giải pháp thiết kế thụ động đã có thể đáp ứng tương đối tốt nhu cầu tiện nghi nhiệt của người sử dụng. Tuy nhiên, khi biến đổi khí hậu khiến nền nhiệt tăng lên và các đợt nắng nóng trở nên khắc nghiệt hơn, những giải pháp này có thể không còn đủ đáp ứng trong mọi thời điểm, nhất là đối với các công trình có mật độ sử dụng cao hoặc yêu cầu điều kiện nhiệt nghiêm ngặt.
Vì vậy, thiết kế công trình cần có thứ tự ưu tiên rõ ràng: trước hết khai thác các giải pháp thụ động để giảm hấp thụ nhiệt và nhu cầu làm mát; sau đó mới bổ sung các giải pháp chủ động như điều hòa không khí khi cần thiết. Cách tiếp cận này vừa hướng tới bảo đảm tiện nghi cho người sử dụng, vừa góp phần giảm tiêu thụ năng lượng và hạn chế tác động đến môi trường.
Trong thực tế, hiệu quả chống nóng không phụ thuộc vào một loại vật liệu riêng lẻ mà là kết quả của sự phối hợp giữa nhiều yếu tố. Mái và tường cần được lựa chọn cấu tạo phù hợp; cửa kính cần được xem xét về khả năng truyền nhiệt và thu nhận bức xạ mặt trời; hệ thống che nắng, thông gió và tổ chức không gian phải phù hợp với hướng công trình cũng như điều kiện khí hậu địa phương. Nếu chỉ bổ sung thiết bị làm mát mà không xử lý nguyên nhân khiến nhiệt đi vào công trình, nhu cầu sử dụng điện có thể tiếp tục tăng cao.
Bên cạnh giải pháp thiết kế, việc đánh giá hiệu quả thực tế sau khi công trình đi vào vận hành cũng có ý nghĩa quan trọng. Theo ông Vũ Văn Dũng, quy chuẩn mới đã đặt ra yêu cầu báo cáo dữ liệu về tính năng nhiệt và hiệu quả sử dụng năng lượng sau 12 tháng vận hành đối với các công trình thuộc phạm vi điều chỉnh. Những dữ liệu này, cùng với phản hồi của người sử dụng và chi phí điện năng thực tế, có thể cung cấp căn cứ để đánh giá mức độ đáp ứng của công trình, từ đó tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn.
Để triển khai hiệu quả, cần thống nhất các chỉ tiêu, phương pháp thử và phương pháp đánh giá, đồng thời phát triển hệ thống phòng thí nghiệm, cơ sở dữ liệu và năng lực tư vấn kỹ thuật. Các cơ chế báo cáo cũng cần được thiết kế hợp lý, tránh tạo thêm thủ tục hành chính không cần thiết cho chủ đầu tư và người dân.
Viện Vật liệu xây dựng đang nghiên cứu, xây dựng dự thảo quy định về dán nhãn năng lượng đối với một số nhóm vật liệu xây dựng, hướng tới cung cấp thông tin rõ ràng hơn về đặc tính nhiệt và hiệu quả năng lượng của sản phẩm. Theo ông Dũng, việc hoàn thiện các quy định này cần gắn với lộ trình phù hợp, bởi để áp dụng những yêu cầu nhiệt tối thiểu trên diện rộng vào năm 2030 vẫn còn nhiều thách thức về dữ liệu khí hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật và mức độ hoàn thiện của hệ thống tiêu chuẩn.
Trước áp lực nắng nóng ngày càng lớn, yêu cầu đặt ra không chỉ là bổ sung quy định mà còn phải thay đổi cách tiếp cận trong thiết kế và sử dụng công trình. Khi khả năng chống nóng được tính toán từ đầu, các giải pháp kiến trúc thụ động được ưu tiên và hiệu quả vận hành được theo dõi bằng dữ liệu thực tế, công trình sẽ có cơ hội duy trì điều kiện sống tiện nghi hơn, giảm chi phí năng lượng và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
