Công ty TNHH MTV Mua bán nợ Việt Nam được mua, xử lý nợ và tái cơ cấu doanh nghiệp
Nghị định số 358/2026/NĐ-CP quy định cơ chế hoạt động và quản lý tài chính của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Mua bán nợ Việt Nam (DATC), trong đó làm rõ các ngành nghề kinh doanh, việc xác định vốn điều lệ và nguyên tắc trích lập dự phòng.
Theo tin từ Báo Điện tử Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 358/2026/NĐ-CP ngày 15-9-2026 quy định về cơ chế hoạt động và quản lý tài chính của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Mua bán nợ Việt Nam (DATC).

Cơ chế hoạt động và quản lý tài chính của Công ty TNHH MTV Mua bán nợ Việt Nam.
DATC là công cụ của Chính phủ hỗ trợ cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước và các thành phần kinh tế khác thông qua hoạt động tiếp nhận, mua, xử lý nợ và tài sản theo chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Đồng thời, DATC mua, xử lý các khoản nợ và tài sản theo cơ chế thị trường, bảo đảm nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại DATC.
DATC được mua, xử lý nợ và kinh doanh tài sản
Nghị định số 358/2026/NĐ-CP quy định 7 ngành nghề, hoạt động kinh doanh của DATC.
Thứ nhất, DATC tiếp nhận, xử lý nợ và tài sản theo quy định của pháp luật về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, trong đó có cả đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cổ phần hóa.
Công ty cũng tiếp nhận, xử lý theo chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các khoản nợ phải thu và tài sản, trong đó có tài sản tồn đọng, tài sản gắn với xử lý nợ, để tiếp tục đầu tư, khai thác hoặc xử lý, thu hồi vốn cho Nhà nước.
Thứ hai, DATC mua, xử lý các khoản nợ và tài sản, trong đó có các dự án cần hỗ trợ xử lý nợ để tiếp tục đầu tư, khai thác, theo chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; mua, xử lý các khoản nợ và tài sản của doanh nghiệp nhà nước và các thành phần kinh tế khác.
Thứ ba, DATC tái cơ cấu doanh nghiệp thông qua hoạt động mua, bán, xử lý nợ và tài sản.
Thứ tư, Công ty quản lý, đầu tư, khai thác và kinh doanh tài sản; kinh doanh bất động sản gắn với hoạt động xử lý nợ và tài sản tiếp nhận. Các tài sản này gồm tài sản bảo đảm khoản nợ DATC mua, tiếp nhận; tài sản nhận cấn trừ nợ; tài sản mua, tiếp nhận theo chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Thứ năm, DATC mua, quản lý, nhận chuyển giao nghĩa vụ nợ, xử lý nợ và tài sản có nguồn gốc từ Chính phủ, Nhà nước theo quyết định của cấp có thẩm quyền; quản lý, khai thác tài sản công theo quy định của pháp luật.
Các khoản nợ, tài sản có nguồn gốc từ Chính phủ, Nhà nước gồm nợ, tài sản hình thành từ vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ và vốn vay Chính phủ bảo lãnh.
Thứ sáu, Công ty tư vấn xử lý nợ, tài sản, mua, bán, sáp nhập, tái cơ cấu doanh nghiệp.
Thứ bảy, DATC thực hiện các hoạt động dịch vụ về thẩm định giá, quản lý nợ và tài sản trên cơ sở bảo đảm đầy đủ các điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật.
Vốn điều lệ được xác định như thế nào?
DATC xác định nhu cầu vốn điều lệ cần bổ sung theo quy định về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Mức đầu tư từ các dự án của DATC gồm dự án đầu tư hình thành từ cấn trừ nợ bằng tài sản; dự án bất động sản đã mua, tiếp nhận theo chỉ định được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc quyết định chủ trương đầu tư trong giai đoạn từ thời điểm vốn điều lệ được phê duyệt gần nhất đến năm điều chỉnh vốn điều lệ.
Kế hoạch đầu tư dự án đã được duyệt tương ứng với mức vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước, Quỹ đầu tư phát triển và các nguồn hợp pháp khác được ghi trong dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư hoặc quyết định đầu tư.
Cách tính nhu cầu bổ sung vốn điều lệ
Nhu cầu bổ sung vốn điều lệ phục vụ hoạt động kinh doanh gắn với quy mô doanh thu kế hoạch của năm xác định điều chỉnh vốn điều lệ = Doanh thu kế hoạch bình quân/Vòng quay vốn lưu động bình quân năm - Vốn đầu tư của chủ sở hữu.
Doanh thu kế hoạch bình quân được xác định bằng chỉ tiêu doanh thu kế hoạch bình quân của 5 năm tính từ năm xác định điều chỉnh vốn điều lệ.
Vòng quay vốn lưu động bình quân năm được xác định bằng tổng giá trị vòng quay vốn lưu động của 5 năm trước liền kề chia 5. Vòng quay vốn lưu động của năm bằng tổng doanh thu thực hiện trong năm chia vốn lưu động bình quân của năm tương ứng.
Vốn lưu động bình quân năm bằng tổng vốn lưu động đầu năm và cuối năm chia 2. Vốn đầu tư của chủ sở hữu được xác định bằng số dư cuối năm tại mã số 411 - “Vốn đầu tư của chủ sở hữu” trên Báo cáo tài chính của năm liền kề trước năm xác định điều chỉnh vốn điều lệ.
Trích đủ 100% giá mua nợ còn lại trong không quá 5 năm
DATC ghi nhận doanh thu, chi phí từ hoạt động mua, xử lý nợ và tài sản là toàn bộ nguồn thu, chi phí phát sinh trong quá trình mua, xử lý nợ và tài sản theo từng hình thức quy định tại Nghị định này.
Công ty thực hiện trích lập và sử dụng các khoản dự phòng theo quy định đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Đối với các khoản nợ phát sinh từ hoạt động mua, bán, xử lý nợ và tái cơ cấu doanh nghiệp, thời gian quá hạn và giá trị quá hạn thanh toán được căn cứ vào thời điểm chuyển giao quyền chủ nợ cho DATC hoặc cam kết trả nợ gần nhất của bên nợ phù hợp với phương án xử lý nợ mua.
DATC quyết định mức trích lập dự phòng hằng năm trên cơ sở khả năng thu hồi nợ tại năm trích lập, nhưng phải bảo đảm trích đủ 100% giá mua nợ còn lại trong thời gian không quá 5 năm kể từ thời điểm quá hạn.
DATC được hạch toán, phân bổ doanh thu, chi phí khi bán nợ trả chậm và thu nợ nhiều lần.
Nghị định số 358/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 30-10-2026, đồng thời bãi bỏ Nghị định số 129/2020/NĐ-CP ngày 27-10-2020 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của DATC.
Các phương án mua, xử lý nợ, tài sản đã được phê duyệt trước ngày 30-10-2026 được lựa chọn tiếp tục thực hiện theo phương án đã được phê duyệt hoặc sửa đổi, bổ sung để thực hiện theo Nghị định số 358/2026/NĐ-CP.
Các khoản chi phí thực hiện nhiệm vụ chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phát sinh trước ngày 30-10-2026 được hạch toán vào chi phí của DATC.
