Công viên thông minh - Không gian văn hóa mới:Bài cuối: Kiến tạo hệ sinh thái văn hóa đô thị
Từ không gian xanh, trải nghiệm văn hóa đến công nghệ và kinh tế đêm, ba chuyên đề trước đã cho thấy công viên đang đứng trước một khả năng mới: trở thành một không gian văn hóa năng động của đô thị. Nhưng để khả năng ấy trở thành giá trị thực, cần một bước chuyển tiếp quan trọng hơn - tổ chức công viên như một hệ sinh thái, nơi quy hoạch, văn hóa, công nghệ, cộng đồng và nguồn lực kinh tế cùng vận hành, bổ trợ cho nhau.
Công viên thông minh - Không gian văn hóa mới: Bài 3: Đánh thức công viên sau hoàng hôn Công viên thông minh - Không gian văn hóa mới: Bài 2: Khi công viên thành “sân khấu mở” của đô thị Công viên thông minh - Không gian văn hóa mới: Bài 1 - Công viên thông minh - Hạ tầng xanh hay hạ tầng mới của công nghiệp văn hóa?
Bắt đầu từ một tư duy phát triển mới
Tại Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 của Bộ VHTTDL ngày 9.7.2026, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy quản lý theo lĩnh vực sang tư duy phát triển theo chuỗi giá trị; lấy hiệu quả kinh tế - xã hội, giá trị gia tăng và mức đóng góp vào tăng trưởng làm thước đo. Đây là một gợi mở quan trọng đối với việc nhìn nhận công viên trong đô thị hiện nay.

Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh phát biểu tại Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm 2026 ngành VHTTDL, ngày 9.7.2026. Ảnh: Cổng TTĐT Bộ VHTTDL
Nếu tiếp cận theo tư duy cũ, công viên chủ yếu được nhìn từ chức năng cây xanh, cảnh quan, vui chơi, nghỉ ngơi; việc quản lý lại thường được chia thành nhiều phần việc thuộc các lĩnh vực khác nhau. Nhưng nếu đặt công viên trong chuỗi giá trị văn hóa - đô thị, một không gian xanh có thể đồng thời là nơi tổ chức hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản, vui chơi, thể thao, dịch vụ, du lịch, kinh tế đêm và các hoạt động sáng tạo.
Chính sự chuyển đổi cách nhìn này tạo ra bước tiếp theo cho ba chuyên đề trước. Công viên không chỉ cần được xác định là một không gian văn hóa mới; không gian ấy phải tạo ra trải nghiệm đủ hấp dẫn để giữ chân con người; công nghệ có thể làm gia tăng trải nghiệm và nâng hiệu quả vận hành. Nhưng nếu các yếu tố này chỉ được triển khai như những dự án riêng lẻ, công viên vẫn chưa thực sự trở thành một mô hình phát triển mới.
Vấn đề cốt lõi vì thế là xây dựng được một hệ sinh thái trong đó không gian xanh là nền tảng, văn hóa là nội dung, con người là chủ thể, công nghệ là công cụ kết nối và kinh tế là một trong những dòng nguồn lực giúp hệ thống vận hành lâu dài.
Cách tiếp cận này cũng phù hợp với định hướng lớn của Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7.1.2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết xác định văn hóa và con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững; đồng thời yêu cầu phát triển văn hóa gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển các ngành công nghiệp văn hóa.
Trong logic ấy, công viên có thể được nhìn như một “hạ tầng mềm” của văn hóa đô thị - một loại không gian mà ở đó các giá trị văn hóa không chỉ được bảo tồn hay trưng bày mà được đưa vào đời sống, được sáng tạo lại và tạo ra những hình thức thụ hưởng mới.
Từ công viên đến hệ sinh thái nhiều dòng giá trị
Một trong những điểm cần thay đổi trước hết là cách xác định giá trị của công viên.

PGS.TS Lưu Đức Hải, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đô thị và Phát triển Hạ tầng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công viên, Cây xanh Việt Nam
Theo PGS.TS Lưu Đức Hải, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đô thị và Phát triển Hạ tầng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công viên, Cây xanh Việt Nam, trong các nghiên cứu về quản lý công viên, cây xanh và phát triển đô thị, đặt không gian xanh trong mối quan hệ rộng hơn với cấu trúc đô thị và chất lượng sống. Từ cách tiếp cận đó, công viên không chỉ cung cấp một diện tích cây xanh mà còn tạo ra các giá trị môi trường, xã hội và không gian cho cộng đồng. Khi những giá trị này được tổ chức tốt, công viên có thể trở thành một bộ phận của hạ tầng đô thị có khả năng tạo ra nhiều lợi ích đồng thời.
Đây cũng là điểm cần được mở rộng khi bàn về “giá trị kinh tế” của công viên. Giá trị ấy không nhất thiết bắt đầu từ việc bán vé. Một công viên có chương trình văn hóa hấp dẫn có thể kéo dài thời gian người dân lưu lại; lượng người tăng lên tạo thị trường cho dịch vụ ăn uống, bán lẻ, giải trí, du lịch; các hoạt động nghệ thuật tạo thêm cơ hội cho nghệ sĩ, doanh nghiệp sáng tạo; trong khi việc ứng dụng công nghệ hợp lý lại giúp giảm chi phí vận hành, bảo trì, sử dụng nước và năng lượng.
Như vậy, một không gian có thể tạo ra nhiều dòng giá trị cùng lúc: giá trị môi trường, giá trị xã hội, giá trị văn hóa, giá trị trải nghiệm và giá trị kinh tế.
TS. KTS Trần Ngọc Chính, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng, Chủ tịch Hiệp hội Công viên Cây xanh Việt Nam, nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu phải nhìn công viên, cây xanh và mặt nước như một bộ phận của hạ tầng đô thị, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác các không gian này. Tại Hội thảo về quản lý công viên, cây xanh, mặt nước hướng tới phát triển đô thị xanh, thông minh, bền vững do Bộ Xây dựng phối hợp với Hiệp hội Công viên Cây xanh Việt Nam tổ chức ngày 9.1.2026, ông Chính nhấn mạnh việc tiếp thu các giải pháp khoa học, thực tiễn để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với công viên, cây xanh, mặt nước.

TS.KTS Lê Thị Bích Thuận, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đô thị và Phát triển Hạ tầng
Từ góc nhìn quy hoạch, TS.KTS Lê Thị Bích Thuận, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đô thị và Phát triển Hạ tầng, cũng lưu ý rằng không gian xanh đô thị không nên được hiểu đơn thuần bằng một chỉ tiêu diện tích cây xanh. Cây xanh cần được tổ chức thành một hệ thống gồm công viên, vườn hoa, hành lang xanh, tuyến cây, mặt nước và các cấu trúc không gian khác. Cách nhìn hệ thống này đặc biệt quan trọng khi công viên được kỳ vọng trở thành không gian văn hóa mới: một công viên không thể tự tạo thành điểm đến nếu nó bị tách khỏi mạng lưới giao thông, không gian công cộng, di sản, dịch vụ và đời sống cư dân xung quanh.
Từ góc nhìn của các nhà chuyên môn, có thể hình dung một chuỗi giá trị mới:
Không gian xanh → hoạt động văn hóa → trải nghiệm → lưu lượng người → dịch vụ và du lịch → kinh tế đêm → nguồn lực tái đầu tư cho không gian và nội dung.
Điểm quan trọng là không mắt xích nào đứng độc lập. Nếu chỉ có cây xanh mà thiếu nội dung, công viên khó tạo sức hút ngoài chức năng nghỉ ngơi. Nếu có sự kiện nhưng thiếu không gian phù hợp, hoạt động khó duy trì thường xuyên. Nếu có công nghệ nhưng không có câu chuyện văn hóa, công nghệ dễ trở thành phần trình diễn ngắn hạn. Nếu có khách nhưng thiếu dịch vụ và cơ chế khai thác hợp lý, dòng giá trị kinh tế sẽ không hình thành.
Do đó, bài toán của công viên thông minh không còn là “lắp thêm thiết bị gì”, mà là “kết nối được những nguồn lực nào”.
Nhà nước kiến tạo, cộng đồng và doanh nghiệp cùng tạo giá trị
Khi công viên được nhìn như một hệ sinh thái, phương thức đầu tư và quản lý cũng phải thay đổi.

Mỗi công viên, vườn hoa, hay khu vực công cộng đều có thể bố trí thành một sân khấu với các hoạt động văn hoá, kết nối cộng đồng
Một hạn chế phổ biến hiện nay là mỗi lĩnh vực có thể có một mục tiêu riêng: đơn vị quản lý cây xanh quan tâm đến duy trì cảnh quan; đơn vị văn hóa quan tâm đến hoạt động nghệ thuật; du lịch quan tâm đến điểm đến; doanh nghiệp quan tâm đến khả năng khai thác; trong khi người dân quan tâm trước hết đến sự thuận tiện, an toàn và chất lượng trải nghiệm.
Sự phân mảnh ấy khiến một công viên có thể được đầu tư nhiều nhưng giá trị tổng thể vẫn chưa tương xứng.
PGS.TS Tạ Quỳnh Hoa, Khoa Kiến trúc Quy hoạch, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, khi phân tích mô hình công viên thông minh, cho rằng công nghệ không thể là yếu tố quyết định duy nhất. Công viên thông minh phải được hình thành từ sự tích hợp giữa không gian, hệ sinh thái, con người, công nghệ và quản trị. Điều này có nghĩa là dữ liệu, cảm biến hay trí tuệ nhân tạo chỉ có ý nghĩa khi giúp cải thiện chất lượng không gian, sử dụng hiệu quả tài nguyên và hỗ trợ các quyết định quản lý.
Đây là điểm có thể trở thành nguyên tắc xuyên suốt cho mô hình công viên văn hóa thông minh: không lấy công nghệ làm trung tâm mà lấy con người, văn hóa và hệ sinh thái làm trung tâm.
Từ phía Bộ VHTTDL, yêu cầu này cũng đang được đặt trong một khung phát triển rộng hơn. Tại buổi làm việc ngày 30.7.2026 về dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Huy Dũng cho biết, đóng góp của công nghiệp văn hóa vào GDP giai đoạn 2018-2025 mới đạt khoảng 4-5%, còn cách khá xa mục tiêu tối thiểu 7% theo Nghị quyết 80. Một trong những nguyên nhân được chỉ ra là hệ thống pháp luật còn quản lý theo từng lĩnh vực, thiếu một đạo luật có khả năng kết nối toàn bộ chuỗi giá trị từ sáng tạo, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, huy động vốn, sản xuất, phân phối, thương mại hóa đến tái đầu tư.
Nhận định này có thể gợi mở trực tiếp cho câu chuyện công viên. Nếu công viên trở thành một không gian cho công nghiệp văn hóa, thì điều cần xây dựng không phải một vài chương trình biểu diễn đơn lẻ, mà là cơ chế để nghệ sĩ, nhà thiết kế, kiến trúc sư, doanh nghiệp công nghệ, đơn vị du lịch, dịch vụ và cộng đồng cùng tham gia tạo sản phẩm.

Một công viên có thể có thể là sân khấu ngoài trời, không gian nghệ thuật công cộng, trình diễn ánh sáng hoặc đài phun nước hiện đại
Một công viên có thể có sân khấu ngoài trời, không gian nghệ thuật công cộng, khu trải nghiệm di sản, tuyến đi bộ kể chuyện lịch sử, trình diễn ánh sáng, chợ sáng tạo cuối tuần, hoạt động dành cho trẻ em, không gian thể thao và các dịch vụ ban đêm. Nhưng điều quan trọng hơn số lượng hạng mục là cơ chế vận hành để các hoạt động ấy có thể kết nối, thay đổi và phát triển theo nhu cầu của cộng đồng.
Kinh nghiệm được KS. Đặng Phan Điệp, Tổng Giám đốc Công ty CP Lumina X, phân tích trong nghiên cứu về chiếu sáng thông minh cũng cho thấy nội dung mới là yếu tố quyết định khả năng tạo khác biệt, chứ không phải bản thân thiết bị. Với công viên, điều này càng rõ: cùng một hệ thống ánh sáng, nhưng nếu nội dung được xây dựng từ lịch sử, ký ức, nghệ thuật và đặc trưng của từng địa điểm, giá trị trải nghiệm sẽ hoàn toàn khác.
Ở đây, vai trò của cộng đồng cũng cần được đặt cao hơn. Người dân không chỉ là đối tượng sử dụng mà phải trở thành một phần của quá trình tạo nội dung. Nghệ nhân địa phương, nhóm sáng tạo trẻ, trường học, câu lạc bộ nghệ thuật, doanh nghiệp và cư dân có thể cùng tham gia xây dựng các chương trình theo mùa, qua đó khiến công viên không bị “đóng khung” trong một thiết kế cố định.
Đó cũng là tinh thần phù hợp với Nghị quyết 80 khi xác định Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng văn hóa, đồng thời nhấn mạnh vai trò của trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ văn hóa, doanh nhân và các lực lượng xã hội trong phát triển văn hóa.
Về phía Nhà nước, theo các nhà chuyên môn, nhiệm vụ quan trọng nhất không phải làm thay tất cả, mà là tạo nền tảng để các nguồn lực có thể gặp nhau: quy hoạch quỹ đất; hoàn thiện hạ tầng; xây dựng tiêu chuẩn; tạo cơ chế xã hội hóa, hợp tác công - tư; bảo đảm quyền tiếp cận không gian công cộng; đồng thời đặt ra các tiêu chí về môi trường, bản sắc văn hóa và lợi ích cộng đồng.
Hình thành mạng lưới công viên văn hóa thông minh
Nếu ba chuyên đề trước lần lượt mở ra câu chuyện về không gian, trải nghiệm và công nghệ, thì bước tiếp theo không nên là xây thêm thật nhiều “công viên thông minh”, mà là hình thành một mạng lưới công viên có chức năng bổ trợ cho nhau.
Đây có thể là hướng đi phù hợp hơn với các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM và một số đô thị lớn khác. Mỗi công viên không nhất thiết phải có đầy đủ mọi chức năng. Một công viên có thể trở thành điểm trình diễn nghệ thuật; nơi khác tập trung vào thể thao và sức khỏe; một không gian gắn với di sản có thể phát triển thành điểm trải nghiệm lịch sử; công viên ven hồ khai thác mặt nước và cảnh quan; những vườn hoa nhỏ trở thành điểm sinh hoạt cộng đồng và nghệ thuật đường phố.
Khi được kết nối bằng dữ liệu, giao thông, truyền thông và các chương trình chung, từng công viên sẽ không còn là một “ốc đảo” mà trở thành một điểm trong mạng lưới văn hóa đô thị.

PGS.TS Tạ Quỳnh Hoa, Khoa Kiến trúc Quy hoạch, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
PGS.TS Tạ Quỳnh Hoa đề xuất cách tiếp cận công viên thông minh dựa trên năm thành phần: không gian, sinh thái, con người, công nghệ và quản trị. Đây có thể được mở rộng thành khung phát triển công viên văn hóa thông minh tại Việt Nam: không gian tạo nền; sinh thái bảo đảm tính bền vững; văn hóa tạo bản sắc; con người tạo nội dung; công nghệ kết nối dữ liệu và trải nghiệm; còn quản trị bảo đảm toàn bộ hệ thống vận hành thống nhất.
Từ góc nhìn này, một công viên chỉ thực sự “thông minh” khi dữ liệu giúp người quản lý biết công viên đang được sử dụng như thế nào; nội dung văn hóa giúp người dân có lý do quay trở lại; thiết kế giúp nhiều nhóm tuổi có thể tiếp cận; công nghệ giúp vận hành tiết kiệm hơn; còn cơ chế tài chính giúp hoạt động có thể duy trì sau khi sự kiện kết thúc.
Đây cũng là lý do không nên đánh giá công viên thông minh bằng số lượng cảm biến, màn hình hay thiết bị được lắp đặt. Các chỉ số quan trọng hơn phải là thời gian người dân lưu lại, mức độ sử dụng của các nhóm cộng đồng, số lượng hoạt động văn hóa được tổ chức, mức độ quay lại, hiệu quả sử dụng nước và năng lượng, giá trị dịch vụ được tạo ra và mức độ đóng góp trở lại cho không gian công cộng.
Về chính sách, những điều kiện để triển khai cách tiếp cận này đang dần hình thành. Nghị quyết 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa, có hiệu lực từ ngày 1.7.2026, quy định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và khuyến khích huy động nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa. Nghị quyết cũng cho phép thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội trong lĩnh vực văn hóa.

Công viên văn hóa có thể được nhìn nhận như một thử nghiệm cụ thể cho cách phát triển văn hóa mới: lấy không gian đời sống làm nền tảng, lấy bản sắc làm nội dung
Cùng với đó, Nghị quyết 155/NQ-CP ngày 19.6.2026 tiếp tục sửa đổi, bổ sung Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 80. Đây là cơ sở để câu chuyện công viên văn hóa thông minh được đặt trong tổng thể chính sách phát triển văn hóa, thay vì chỉ được xem là một sáng kiến riêng của ngành xây dựng, văn hóa hay một địa phương.
Đáng chú ý, ngày 25.2.2026, Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm) dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết 80-NQ/TW. Trước đó cùng ngày, Bộ Chính trị đã thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, cho thấy yêu cầu triển khai Nghị quyết 80 đã chuyển mạnh từ định hướng sang tổ chức thực hiện.
Trong bối cảnh đó, công viên văn hóa thông minh có thể được nhìn nhận như một thử nghiệm cụ thể cho cách phát triển văn hóa mới: lấy không gian đời sống làm nền tảng, lấy bản sắc làm nội dung, lấy công nghệ làm công cụ, lấy cộng đồng làm chủ thể và lấy hiệu quả xã hội - văn hóa - kinh tế làm thước đo.
Nếu được tổ chức theo hướng này, công viên sẽ không chỉ “xanh” hơn hay “thông minh” hơn. Quan trọng hơn, đó sẽ là những không gian có khả năng tạo ra đời sống văn hóa mới, nơi người dân đến để nghỉ ngơi, gặp gỡ, sáng tạo, thưởng thức nghệ thuật, khám phá di sản và tham gia vào các hoạt động cộng đồng. Từ một hạ tầng công cộng tưởng như quen thuộc, công viên có thể trở thành một mắt xích của hệ sinh thái công nghiệp văn hóa và kinh tế đô thị.
Và đó có lẽ cũng là bước tiếp theo của câu chuyện: không chỉ làm cho công viên có thêm hoạt động, mà xây dựng cơ chế để những không gian ấy thực sự trở thành nơi văn hóa được sáng tạo, được tiêu dùng, được lan tỏa và tiếp tục tạo nguồn lực cho phát triển.
