Cụ Hồ trọng dụng, mời cụ Huỳnh Thúc Kháng tham gia Chính phủ Liên hiệp ra sao?
Ở tuổi 70, sau hai bức điện từ Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều lần từ chối chức Bộ trưởng, cụ Huỳnh Thúc Kháng quyết định nhận lời gánh việc nước.
Trả lời Báo Điện tử VTC News, ông Nguyễn Túc, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đánh giá cuộc đời của cụ Huỳnh Thúc Kháng gắn liền với những dấu mốc rất đặc biệt của đất nước. Năm 1900, cụ Huỳnh Thúc Kháng đỗ đầu kỳ thi Hương, đến năm 1904 tiếp tục đỗ cao ở kỳ thi Hội. Con đường quan trường rộng mở, nhưng cụ không lựa chọn.
Ông Nguyễn Túc lý giải cụ Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan bởi “nước đã mất, triều đình đã một bề khuất phục giặc ngoại xâm”.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947). (Ảnh tư liệu)
Hai bức điện từ Hà Nội
Trong quá trình chuẩn bị thành lập Chính phủ Liên hiệp, theo thỏa thuận giữa các lực lượng chính trị, người đứng đầu Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng được lựa chọn là những nhân sĩ không thuộc đảng phái.
Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghĩ đến nhân sĩ Huỳnh Thúc Kháng - người có uy tín, nhiều năm hoạt động yêu nước nhưng không tham gia đảng phái chính trị.
Từ Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện mời cụ Huỳnh ra nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Theo tư liệu trích trong “Hồ Chí Minh - Người mang lại ánh sáng”, hôm ấy, trời Huế mưa lạnh. Cụ Huỳnh điện trả lời: “Thời tiết xấu, tôi chưa đi được và không thể nhận chức Bộ trưởng nhưng trước sau gì tôi cũng ra gặp Cụ”.
Vài ngày sau, bức điện thứ hai được gửi tới: “Chúng tôi khẩn khoản mời cụ ra Hà Nội nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ!”. Bức điện có chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Võ Nguyên Giáp.
Sau khi bàn bạc với một số nhân sĩ ở Huế, cụ Huỳnh quyết định lên đường và điện trả lời: “Tôi vừa nhận được điện thứ hai, tôi chuẩn bị trời tốt sẽ lên đường”.
Nhưng ra Hà Nội không có nghĩa cụ đã đồng ý làm Bộ trưởng. Theo ông Nguyễn Túc, ý định ban đầu của Huỳnh Thúc Kháng vẫn chỉ là “muốn ra gặp Cụ Hồ để bày tỏ một vài ý kiến”.
Ngày 23 tháng Giêng Âm lịch năm 1946, xe của Ủy ban Hành chính Trung Bộ đến tòa soạn báo Tiếng Dân đón cụ Huỳnh. Đi cùng có hai người chăm sóc cụ, trong đó có Nguyễn Xương Thái, người thư ký thân tín.
Đến Hà Nội, cụ được đưa thẳng tới Bắc Bộ phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đó đi vắng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Hoàng Hữu Nam cùng một số cán bộ ra đón và bố trí cụ nghỉ lại.
Sáng hôm sau, cụ Huỳnh Thúc Kháng đang ngồi uống trà thì Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về. Theo tư liệu, vừa gặp cụ Huỳnh, Bác “bỏ gậy, bỏ mũ, ôm choàng cụ Huỳnh”. Hai người đều ứa nước mắt.
Câu nói đầu tiên của Bác Hồ với cụ Huỳnh: “Tôi tưởng phải bỏ thây ở nước ngoài vì mấy chục năm tôi gặp không biết bao nhiêu là gian nan, nguy hiểm!”. Cụ Huỳnh vừa khóc vừa nói: “Khi còn ở Côn Lôn, tôi cũng tưởng không có ngày phục vụ Tổ quốc, phục vụ dân tộc vì án tù chung thân. Nay gặp Cụ tôi hả lắm!”.
Hai người trò chuyện khoảng một giờ rồi cùng dùng bữa điểm tâm với xôi và bánh tráng nướng. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thu xếp phòng để cụ Huỳnh ở lại Bắc Bộ phủ.
Chiều hôm sau, Bác Hồ nói chuyện lập Chính phủ với cụ Huỳnh: “Việc mời cụ ra nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ là ý kiến chung của tất cả các đảng phái, chứ không phải ý kiến riêng tôi, vì cụ ở lại trong nước, cụ biết rõ trình độ tiến bộ của đồng bào ba kỳ, đồng thời đồng bào ba kỳ đều tín nhiệm cụ!”.
Cụ Huỳnh trả lời: “Tôi ra đây là cốt gặp Cụ, chớ lúc này là lúc cần tăng gia sản xuất mà tôi không biết cầm cày, cầm cuốc; lại cần phải kháng chiến mà tôi lại không mang súng nổi. Cụ nên kiến nghị người trẻ thạo việc để trao nhiệm vụ thì hơn!”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết Chính phủ có 10 bộ, 9 vị trí đã có người nhận, chỉ còn Bộ Nội vụ. Trong khi quân Pháp đã trở lại Nam Bộ, Chính phủ cần sớm được kiện toàn và ra mắt quốc dân. Cụ Huỳnh vẫn đề nghị có thể để Thủ tướng hoặc một Bộ trưởng khác tạm thời kiêm nhiệm.
Bác nói: “Cụ vui lòng giúp tôi! Bây giờ tôi có việc phải đi, chúng ta sẽ gặp lại!”.
Sáng hôm sau, Bác Hồ gọi riêng ông Nguyễn Xương Thái, nhờ chuyển tới cụ Huỳnh một lời khác: “Chú thưa với cụ Huỳnh, khi xưa làm quan là hưởng đỉnh chung, bây giờ chúng ta làm việc cho dân, cho nước, gọi là công bộc của dân. Chú cũng nói cụ biết là bọn Lư Hán còn đóng ở đây, chúng biết trong Chính phủ ta có một vị tiến sĩ văn chương như cụ, chúng cũng trọng. Cụ Huỳnh đã hy sinh nhiều, xin cụ hy sinh thêm. Nay mai sẽ có một Hội nghị liên tịch, các chính đảng sẽ mời cụ”.
Tối hôm ấy, nghe ông Nguyễn Xương Thái thuật lại lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Huỳnh nói: “Từ bữa ra đây đến nay thấy công việc quá nhiều và thương Cụ Hồ vất vả. Đành rằng mình vẫn một lòng với Cụ, chờ nhận Bộ trưởng thì ‘Tiếng Dân’ ra sao?”. Ông Thái cho biết Tiếng Dân sẽ có ban quản trị mới thay cụ.
Một ngày sau, tại Hội nghị liên tịch có đại diện các chính đảng tham dự, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa đề nghị cụ Huỳnh Thúc Kháng nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Lần này, cụ nói nếu Chính phủ cần thì xin tạm nhận nhiệm vụ một thời gian.
Ngày 2/3/1946, Quốc hội thông qua danh sách Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị. Theo lời ông Nguyễn Túc, khi giới thiệu người giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Một người đạo đức, danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết, đó là cụ Huỳnh Thúc Kháng!”.
Ít lâu sau, cụ Huỳnh Thúc Kháng còn được bầu làm Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội khóa I bầu ra. Hàng đầu, ở giữa là Chủ tịch Hồ Chí Minh, bên phải là ông Nguyễn Văn Tố, bên trái là ông Huỳnh Thúc Kháng. (Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III)
Quyền Chủ tịch nước và lời dặn “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”
Bản tin trưa ngày 31/5/1946 của Đài Phát thanh Việt Nam phát đi bản tin thông báo: Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ dẫn đầu phái đoàn Chính phủ Việt Nam thăm chính thức Cộng hòa Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp, thì trước đó, ngày 27/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ, quyết định Cụ Huỳnh Thúc Kháng tạm thay Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian Người đi vắng.
Sau đó, ngày 29/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 82-SL về việc ủy nhiệm Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ thay Chủ tịch Chính phủ đi vắng, ký công văn hàng ngày và chủ toạ họp Hội đồng Chính phủ.
Tại sân bay Gia Lâm, trước khi lên máy bay, Bác Hồ nói với cụ Huỳnh: “Tôi có việc phải đi, mọi việc ở nhà đều có cụ!”.
Cùng với lời gửi gắm ấy, Người trao cho cụ sáu chữ: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Cụ Huỳnh sau đó coi đây là phương châm hành động trong thời gian giữ quyền Chủ tịch nước.
Hơn bốn tháng sau, khi trở về, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận những công việc mà cụ Huỳnh cùng Quốc hội và Chính phủ đã giải quyết trong thời gian Người đi vắng.
Ngày 23/10/1946, trong lời tuyên bố với quốc dân, Bác Hồ nói: “Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Cụ Huỳnh - Quyền Chủ tịch, sự sẵn sàng giúp đỡ của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hiệp lực của quốc dân, mà giải quyết được nhiều việc khó khăn, công việc kiến thiết cũng tiến bộ”.
Theo ông Nguyễn Túc, dù tuổi cao, sức yếu, trong thời gian giữ Quyền Chủ tịch nước, cụ Huỳnh đã dành nhiều tâm sức để giữ vững chủ quyền, độc lập và ổn định chính trị. Một trong những sự việc nổi bật thời gian này là việc xử lý vụ Ôn Như Hầu.
Tháng 11/1946, khi nguy cơ chiến tranh ngày càng cận kề, Quốc hội giao Chủ tịch Hồ Chí Minh cải tổ Chính phủ cho phù hợp với tình hình mới. Cụ Huỳnh xin thôi vì tuổi cao, sức yếu. Tuy nhiên, ngày 3/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo trước Quốc hội: “Cụ Huỳnh vì tuổi già, sức yếu mà cố từ, nhưng vì tôi lấy đại nghĩa mà lưu cụ, cụ cũng gắng ở lại”.
Khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, cụ Huỳnh được cử thay mặt Chính phủ cùng ông Tôn Quang Phiệt, đại diện Ban Thường trực Quốc hội, đi các tỉnh miền Trung, thăm hỏi, động viên đồng bào và kiểm tra công tác chuẩn bị kháng chiến của các địa phương.
Trên đường công tác, cụ Huỳnh lâm bệnh nặng và qua đời tại Quảng Ngãi ngày 21/4/1947, hưởng thọ 71 tuổi.
Trong thư gửi đồng bào cả nước sau khi cụ Huỳnh qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao. Vì lòng yêu nước mà trước đây cụ bị bọn thực dân làm tội, đày ra Côn Đảo, mười mấy năm trường gian nan cực khổ. Nhưng lòng son, dạ sắt, yêu nước thương nòi của Cụ Huỳnh chắc chắn không sờn lại thêm kiên quyết. Cụ Huỳnh là người giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không nản chí, oai vũ không làm sờn gan”.
Người cũng khái quát về cuộc đời nhà chí sĩ xứ Quảng: “Cả đời cụ Huỳnh không màng danh vị, không cần lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”.
Và Bác Hồ kêu gọi đồng bào “theo gương dũng cảm, nối chí quật cường của Cụ” để “hoàn thành sự nghiệp cứu nước, cứu dân mà cụ đã ra sức đeo đuổi suốt đời”.
Huỳnh Thúc Kháng sinh ngày 1/10/1876 trong một gia đình nho học ở Tiên Cảnh, Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam (cũ), vùng đất có truyền thống yêu nước và hiếu học. Lớn lên trong cảnh đất nước mất độc lập, Huỳnh Thúc Kháng sớm nổi tiếng thông minh, học giỏi. Năm 1900, cụ đỗ đầu kỳ thi Hương, đến năm 1904 tiếp tục đỗ cao ở kỳ thi Hội. Con đường quan trường rộng mở, nhưng cụ không lựa chọn.
Cùng với Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và những người đồng chí hướng, Huỳnh Thúc Kháng trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ, cổ súy mở mang dân trí, cải cách xã hội. Sau phong trào chống thuế năm 1908, chính quyền thực dân đàn áp mạnh các sĩ phu yêu nước. Trần Quý Cáp bị xử tử; Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng cùng nhiều người khác bị đày ra Côn Đảo.
Mười ba năm sau, năm 1921, Huỳnh Thúc Kháng được trả tự do. Trở về đất liền, cụ tiếp tục hoạt động công khai, tham gia Viện Dân biểu Trung Kỳ, được bầu làm Viện trưởng và đưa ra nhiều yêu cầu liên quan trực tiếp đến đời sống người dân như giảm thuế rượu, thuế muối, phổ cập chữ quốc ngữ. Khi những đề nghị này bị chính quyền thực dân bác bỏ, sau cuộc tranh luận gay gắt với Khâm sứ Trung Kỳ, cụ từ chức Viện trưởng.
Rời nghị trường, Huỳnh Thúc Kháng chuyển sang hoạt động báo chí. Năm 1927, báo Tiếng Dân ra đời tại Huế, trở thành diễn đàn để cụ tiếp tục lên tiếng về những vấn đề của đất nước, đòi các quyền dân chủ. Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim sau đó được thành lập. Huỳnh Thúc Kháng không nhận lời tham gia chính phủ này, đồng thời khước từ sự vận động của Hoàng thân Cường Để.
