Cụ Huỳnh Thúc Kháng: Sức quy tụ của một nhân cách lớn

Uy tín quy tụ lòng dân, bản lĩnh gánh vác việc nước làm nên sức sống di sản cụ Huỳnh Thúc Kháng. Các tham luận tại hội thảo khoa học kỷ niệm 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng diễn ra sáng 30/9 góp thêm góc nhìn về một nhân cách lớn.

Phó Trưởng ban Tuyên giáo Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Nguyễn Tuấn Anh phát biểu tại hội thảo. Ảnh: T.HUY

Phó Trưởng ban Tuyên giáo Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Nguyễn Tuấn Anh phát biểu tại hội thảo. Ảnh: T.HUY

Uy tín và sự chân thành quy tụ lòng dân

Trong tham luận tại hội thảo, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Nguyễn Tuấn Anh nhấn mạnh, cụ Huỳnh Thúc Kháng là một biểu tượng của khối đại đoàn kết dân tộc. Sức quy tụ ấy có cội nguồn trong cuộc đời thanh bạch, lòng yêu nước và sự nhất quán giữa chí hướng với hành động.

Uy tín của cụ Huỳnh được bồi đắp qua những lựa chọn, thử thách và sự hy sinh cho đất nước. Khi tham gia Chính phủ cách mạng, cụ mang theo niềm tin của đông đảo nhân dân, nhân sĩ, trí thức. Sự hiện diện của một bậc túc nho giàu lòng yêu nước góp phần củng cố sự đồng thuận trong buổi đầu xây dựng chính quyền mới.

Tham luận làm rõ cuộc gặp gỡ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng trên nền tảng chung là lòng yêu nước, mục tiêu độc lập dân tộc và tự do của nhân dân. Những khác biệt về thế hệ, xuất thân, con đường hoạt động không ngăn trở sự đồng lòng khi lợi ích quốc gia được đặt ở vị trí cao nhất.

Đại biểu tham quan khu trưng bày các tư liệu, hình ảnh về cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh: T.HUY - T.CÔNG

Đại biểu tham quan khu trưng bày các tư liệu, hình ảnh về cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh: T.HUY - T.CÔNG

Ngày 29/5/1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Hội Liên Việt) thành lập tại Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Hội trưởng danh dự, cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Hội trưởng. Trên cương vị này, cụ góp sức tập hợp các tầng lớp nhân dân, nhân sĩ, trí thức, đồng bào các dân tộc, tôn giáo cùng chung lo việc nước.

Một câu chuyện ở Quảng Nam được tham luận dẫn lại cho thấy cách vận động đoàn kết rất cụ thể của cụ. Trước tình trạng một số người có uy tín tại địa phương chưa ủng hộ chính quyền mới, thậm chí ngăn cản con cháu tham gia các tổ chức, cụ chủ động mời họ gặp gỡ. Trong số ấy có những người từng là học trò của cụ.

Bằng tư cách người thầy, người bạn cũ, cụ giải thích chủ trương của Chính phủ, Việt Minh và Hội Liên Việt, khuyên họ cùng góp sức xây dựng đất nước. Sự chân thành đi cùng thái độ rõ ràng: vận động, thuyết phục để tạo đồng thuận, nhưng kiên quyết với hành vi phá hoại.

Qua phân tích của ông Nguyễn Tuấn Anh, đoàn kết trong thực hành của cụ Huỳnh là công việc đòi hỏi sự chủ động gặp gỡ, lắng nghe, giải thích và tháo gỡ những khác biệt. Người đứng ra tập hợp phải có uy tín, trách nhiệm và đặt lợi ích chung lên trước.

Bài học ấy tiếp tục gợi mở cách xây dựng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết hôm nay: chăm lo lòng tin của nhân dân, tôn trọng những khác biệt chính đáng, tìm điểm tương đồng vì mục tiêu chung của đất nước.

Bản lĩnh và trách nhiệm

TS. Đỗ Trường Giang, Phó Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Văn phòng Chủ tịch nước tập trung phân tích những hoạt động, cống hiến của cụ Huỳnh Thúc Kháng trên cương vị Quyền Chủ tịch nước.

Trong hơn bốn tháng Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp năm 1946, cụ cùng tập thể Chính phủ xử lý công việc giữa tình thế đất nước đứng trước nhiều thử thách.

TS. Đỗ Trường Giang, Phó Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Văn phòng Chủ tịch nước trình bày tham luận. Ảnh: T.HUY - T. CÔNG

TS. Đỗ Trường Giang, Phó Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Văn phòng Chủ tịch nước trình bày tham luận. Ảnh: T.HUY - T. CÔNG

Ngày 29/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 82/SL giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng thay mình ký các công văn thường ngày và chủ tọa Hội đồng Chính phủ. Trọng trách ấy thể hiện sự tin cậy đối với phẩm chất, năng lực và uy tín của cụ.

Theo TS. Đỗ Trường Giang, đóng góp quan trọng của cụ Huỳnh Thúc Kháng là bảo đảm sự liên tục của quyền lực nhà nước, giữ cho hoạt động của Chính phủ ổn định. Những công việc hành chính, an ninh, tư pháp, giáo dục, kinh tế vẫn được giải quyết trong hoàn cảnh vừa phải ứng phó tình thế cấp bách, vừa xây dựng nền móng lâu dài cho chính quyền cách mạng.

Trách nhiệm gánh việc nước hiện diện trong từng quyết định điều hành. Ví như, Thông tư số 247-NC/PC ngày 26/9/1946 yêu cầu các cơ quan hành chính ban hành quyết định đúng thẩm quyền, phù hợp với pháp luật và sắc lệnh. Chi tiết này cho thấy sự chú trọng của cụ đối với kỷ cương hoạt động của bộ máy nhà nước.

Bản lĩnh ấy còn thể hiện ở cách xử lý các vấn đề an ninh. Trước những âm mưu chống phá được phát hiện cuối tháng 6/1946, cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng Chính phủ yêu cầu điều tra kỹ, có chứng cứ, tránh hành động nóng vội hoặc mắc vào sự khiêu khích.

Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Ảnh: T.HUY - T.CÔNG

Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Ảnh: T.HUY - T.CÔNG

Trong xử lý vụ án ở phố Ôn Như Hầu tháng 7/1946, sự thận trọng trong xác minh đi cùng thái độ kiên quyết khi đã có căn cứ. Yêu cầu đoàn kết không đồng nghĩa với dung túng hành vi vi phạm pháp luật, gây tổn hại đến nhân dân và chính quyền cách mạng.

Tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến” được soi chiếu qua những công việc: giữ vững lợi ích quốc gia, dân tộc; chủ động, linh hoạt và tỉnh táo trong cách giải quyết tình hình. Sự ổn định ở trong nước cũng góp phần hỗ trợ hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Pháp.

Giá trị cống hiến của cụ Huỳnh Thúc Kháng cần được nhìn ở sự vững vàng trong điều hành, trách nhiệm bảo vệ lợi ích quốc gia và giữ ổn định bộ máy giữa hoàn cảnh hiểm nghèo. Đó cũng là bài học về đạo đức công vụ: tận tâm với nhiệm vụ, giữ kỷ cương, thận trọng trước mỗi quyết định và dám chịu trách nhiệm vì việc chung.

TRỌNG HUY - THÀNH CÔNG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/cu-huynh-thuc-khang-suc-quy-tu-cua-mot-nhan-cach-lon-3353669.html