Cụ Huỳnh Thúc Kháng, tấm gương sáng về người đứng đầu - Bài 1: Bài học trách nhiệm trước Quốc hội

Cụ Huỳnh Thúc Kháng là người Việt Nam hiếm hoi đi trọn hai nghị trường của hai chế độ. Ở nghị trường thuộc địa, cụ dùng diễn đàn để nói thay dân rồi từ chức khi diễn đàn ấy chỉ là hình thức. Ở Quốc hội của nước Việt Nam độc lập, cụ đứng trả lời chất vấn và nhận phần trách nhiệm về mình.

Một câu trả lời chất vấn

Ngày 31/10/1946, tại Kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I, lần đầu tiên các thành viên Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước đại biểu nhân dân trả lời chất vấn. Phiên chất vấn kéo dài đến hết đêm. Thay mặt Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng phát biểu: "Nước nhà đã vượt qua nhiều khó khăn, đó là công lao của Hồ Chủ tịch. Nhưng trong nước có những việc không hay, đó là việc của tôi!".

Chân dung cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947). Ảnh tư liệu. Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (baotanglichsu.vn).

Chân dung cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947). Ảnh tư liệu. Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (baotanglichsu.vn).

Người nói câu ấy năm đó đã 70 tuổi, vừa trao lại quyền điều hành công việc Chủ tịch nước sau 143 ngày gánh vác thay Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cụ không kể công. Cụ dành công cho Hồ Chủ tịch và nhận cái chưa hay về Bộ mình.

Ngày 31/10/2026 tròn 80 năm sau phiên chất vấn đầu tiên ấy, từ đó tới nay, chất vấn đã thành hoạt động giám sát thường xuyên của Quốc hội ở mỗi kỳ họp. Câu trả lời của cụ Huỳnh vẫn là một chuẩn mực về tư cách của người đứng trước nghị trường.

Câu nói ấy không phải phút ứng khẩu. Nó là kết tinh của 12 năm cụ suy nghĩ về việc một cơ quan đại diện của dân phải vận hành thế nào.

Nghị trường thứ nhất: Viện Dân biểu Trung Kỳ

Năm 1926, 5 năm sau ngày ra khỏi nhà tù Côn Đảo, cụ Huỳnh Thúc Kháng được bầu làm dân biểu Trung Kỳ rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 150 năm Ngày sinh của cụ do Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành kèm Hướng dẫn số 06-HD/BTGTW ngày 8/9/2026 ghi rõ: "Cụ sử dụng nghị trường làm diễn đàn công khai để nêu những vấn đề của Nhân dân, yêu cầu chính quyền thực dân thay đổi chính sách cai trị".

Những yêu cầu của cụ cùng các dân biểu tiến bộ đưa ra đi rất xa so với khuôn khổ chế độ bảo hộ. Về lập hiến, theo Đề cương, cụ "đề xuất phân định quyền hạn giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp; mở rộng quyền hạn của Viện Dân biểu; trao quyền bầu cử cho người đóng thuế; xây dựng Thượng viện và Hạ viện". Về dân sinh, theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, các dân biểu đòi giảm thuế đinh, thuế điền, mở thêm trường học, công trình thuỷ lợi, bỏ độc quyền muối, rượu.

Bảng: Hai nghị trường của cụ Huỳnh Thúc Kháng

Nguồn: Đề cương tuyên truyền kèm Hướng dẫn 06-HD/BTGTW; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; Việt Nam Dân quốc Công báo năm 1946.

Nguồn: Đề cương tuyên truyền kèm Hướng dẫn 06-HD/BTGTW; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; Việt Nam Dân quốc Công báo năm 1946.

Rời ghế Viện trưởng ngày 2/10/1928

Hai năm ngồi ghế Viện trưởng đủ để cụ Huỳnh nhìn rõ bản chất của thiết chế ấy. Trong Huỳnh Thúc Kháng tự truyện, cụ viết: "Năm 1928... Nhưng trải qua hai lần Đại Hội đồng thường niên tôi thấy rõ chân tướng của nó, tên là Dân Biểu nhưng kỳ thực... không có ý nghĩa gì. Tháng 10 năm ấy tôi có bài diễn văn bế mạc, chỉ trích gắt gao chính sách của Chính phủ Pháp thi hành tại Trung kỳ, cho là bất hợp tình thế, khiến nhân dân thêm ác cảm, buộc phải cải cách". (Huỳnh Thúc Kháng tự truyện, dẫn theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)

Tại kỳ họp thường niên ngày 2/10/1928, cụ chỉ trích đường lối của chính quyền thực dân rồi tuyên bố từ chức. Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, việc ấy kéo theo sự ly khai của hàng loạt dân biểu tiến bộ, được Đông Pháp thời báo ngày 18/10/1928 đánh giá là "làm náo động dư luận Tây, Nam trong khắp cõi Đông Dương".

Bài học của nghị trường thứ nhất rất rõ. Cụ không coi chiếc ghế Viện trưởng là danh vị. Cơ quan mang danh đại diện cho dân mà không bảo vệ được quyền lợi của dân thì cụ không ngồi lại để làm vật trang trí. Đề cương của Ban Tuyên giáo Trung ương tổng kết: "Nhận rõ những giới hạn của Viện Dân biểu và sự can thiệp của chính quyền thực dân, Cụ từ chức năm 1928. Hoạt động nghị trường của cụ Huỳnh Thúc Kháng thể hiện tinh thần đấu tranh công khai, thẳng thắn và ý thức bảo vệ quyền lợi Nhân dân".

Rời nghị trường, cụ chuyển tiếng nói sang mặt báo Tiếng Dân. Ngày 14/9/1936, cụ công bố trên Tiếng Dân thư trả lời Ban Thường trực Dân nguyện Trung Kỳ, nêu các yêu cầu về chính thể, dân quyền, bầu cử, Thượng viện, Hạ viện, học vụ, y tế, báo giới, nông dân, lao động, tài chính, kinh tế. Đề cương viết: "Nếu Viện Dân biểu là nơi Cụ công khai chất vấn và yêu cầu nhà cầm quyền thay đổi chính sách, thì Tiếng Dân là diễn đàn để phản ánh đời sống, tố cáo bất công".

Nghị trường thứ hai: Quốc hội khoá I

18 năm sau ngày rời Viện Dân biểu, cụ Huỳnh bước vào một nghị trường khác hẳn về bản chất: Quốc hội của nước Việt Nam độc lập, do toàn dân bầu ra trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946.

Ngày 2/3/1946, tại Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá I, Quốc hội chấp nhận sự từ chức của Chính phủ Liên hiệp lâm thời và trao cho Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiệm vụ thành lập Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Khi giới thiệu thành phần Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu cụ Huỳnh Thúc Kháng giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, đánh giá cụ là "một người đạo đức danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết".

Đề cương tuyên truyền phân tích ý nghĩa của sự lựa chọn ấy: "Cụ không phải đảng viên cộng sản nhưng là một chí sĩ yêu nước lão thành, có uy tín rộng rãi trong Nhân dân, giới trí thức và nhiều tầng lớp xã hội. Sự tham gia của Cụ thể hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, trọng dụng nhân tài, tập hợp mọi lực lượng yêu nước của Chính phủ cách mạng".

Người từng đòi chính quyền thuộc địa phải có hiến pháp, phải phân quyền, phải để dân bầu cử, nay ngồi trong Chính phủ chịu trách nhiệm trước một Quốc hội do dân bầu. Khát vọng của nghị trường thứ nhất đã thành hiện thực ở nghị trường thứ hai.

Quyền Chủ tịch hỏi ý kiến Quốc hội

Ngày 29/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 82 uỷ nhiệm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng ký thay những công văn thường ngày và chủ toạ các phiên họp Hội đồng Chính phủ trong thời gian Người sang Pháp. Từ ngày 31/5 đến ngày 21/10/1946, cụ Huỳnh cầm quyền điều hành công việc của Chủ tịch nước.

Việt Nam Dân quốc Công báo trong 143 ngày ấy ghi lại một nếp làm việc nhất quán. Những sắc lệnh quan trọng cụ ký thay Chủ tịch đều ghi trước phần "Ra sắc lệnh" một câu như "sau khi ban Thường trực Quốc hội và hội đồng Chính phủ thoả thuận" hoặc "sau khi đã hỏi ý kiến ban Thường trực Quốc hội". Câu ấy có ở sắc lệnh đặt đảm phụ đặc biệt đánh vào ngành vận tải ngày 9/7, sắc lệnh cho Nam Bộ mở công trái ngày 16/7, sắc lệnh cho nộp thuế bằng giấy bạc Việt Nam và vàng bạc ngày 4/9, sắc lệnh điều chỉnh thuế hàng nhập khẩu ngày 24/9, sắc lệnh quy định việc buôn bán vàng bạc ngày 15/10/1946.

Đó là những quyết định đụng tới túi tiền của dân. Cụ không tự quyết một mình. Người giữ quyền cao nhất của Nhà nước trong lúc Chủ tịch đi vắng tự đặt mình dưới sự giám sát của cơ quan đại diện cho dân.

Ngày 23/10/1946, hai ngày sau khi về nước, trong Lời tuyên bố với quốc dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận: "Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Huỳnh quyền Chủ tịch, sự săn sóc giúp đỡ của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hợp lực của quốc dân, mà giải quyết được nhiều việc khó khăn". Chủ tịch đặt cụ Huỳnh và Quốc hội đứng cạnh nhau trong cùng một câu ghi công.

Chỉ 8 ngày sau lời ghi công ấy, cụ đứng trước Quốc hội trong phiên chất vấn đầu tiên và nhận về mình "những việc không hay". Lời ghi công của Hồ Chủ tịch, cụ nhường lại cho Hồ Chủ tịch. Phần trách nhiệm, cụ giữ cho mình.

Bài học cho người đứng trước nghị trường hôm nay

Cuộc đời cụ Huỳnh để lại một bài học cho cán bộ: "phải có chính kiến, dám bảo vệ điều đúng và không thoả hiệp với cái sai"; thái độ "đúng nói đúng, sai nói sai" của cụ gần với yêu cầu cán bộ, đảng viên "lấy sự hài lòng và lợi ích của Nhân dân làm thước đo hiệu quả công việc" hôm nay.

Lễ phát hành bộ tem bưu chính kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng, Đà Nẵng, ngày 30/9/2026. Nguồn: Báo Thanh Niên

Lễ phát hành bộ tem bưu chính kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng, Đà Nẵng, ngày 30/9/2026. Nguồn: Báo Thanh Niên

Ba bài học ấy hiện ra rất cụ thể ở hai nghị trường của cụ Huỳnh. Ở Viện Dân biểu, cụ có chính kiến và dám nói, dù phía bên kia là chính quyền thực dân với Khâm sứ Trung Kỳ đứng đầu. Ở Quốc hội khoá I, cụ dám nhận phần chưa làm được, dù vừa được Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi công. Ở cả hai nơi, thước đo của cụ là lợi ích của dân chứ không phải chiếc ghế mình ngồi.

Tại Lễ kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng sáng 01/10/2026 ở Đà Nẵng, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhắc lại lời Chủ tịch Hồ Chí Minh về cụ: "Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao... Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập". Chủ tịch Quốc hội đề nghị "biến truyền thống thành động lực, biến khát vọng thành hành động, biến tiềm năng thành nguồn lực".

Với Quốc hội hôm nay, truyền thống ấy có địa chỉ cụ thể. Mỗi kỳ họp, các thành viên Chính phủ đứng trước nghị trường trả lời chất vấn của đại biểu. Câu trả lời tốt nhất vẫn là câu trả lời theo nếp cụ Huỳnh: nói thẳng việc chưa làm được, nhận rõ phần trách nhiệm của mình, rồi nêu cách sửa.

150 năm sau ngày cụ Huỳnh Thúc Kháng ra đời, 80 năm sau phiên chất vấn đầu tiên, câu nói "trong nước có những việc không hay, đó là việc của tôi" vẫn là tấm gương soi cho mọi người được dân giao quyền. Công lao thì nhường cho tập thể, trách nhiệm thì nhận về mình. Đó là phong thái của một bậc đại trí thức trọn đời vì nước, vì dân.

Lâm Vỹ Sơn

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/cu-huynh-thuc-khang-tam-guong-sang-ve-nguoi-dung-dau-bai-1-bai-hoc-trach-nhiem-truoc-quoc-hoi-475518.html