Củng cố sức mạnh của biển từ nguồn nhân lực

Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cùng với phát triển kết cấu hạ tầng, đội tàu và dịch vụ logistics biển, xây dựng nguồn nhân lực biển chất lượng cao được xác định là một trong những giải pháp mang tính nền tảng.

Sự lệch pha giữa cung và cầu

Cách đây không lâu, 30 giảng viên, nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý từ nhiều địa phương, cơ sở đào tạo trên cả nước đã hoàn thành khóa đào tạo giảng viên nguồn (ToT) về quy hoạch không gian biển và phát triển kinh tế biển bền vững, do Trường Đại học Hàng hải Việt Nam phối hợp cùng Chương trình Phát triển Liên hợp quốc tổ chức. Đây được xem là bước đi bài bản đầu tiên nhằm xây dựng đội ngũ “hạt giống” có khả năng lan tỏa kiến thức về quản trị biển hiện đại xuống các địa phương ven biển. Ở khối đại học, Trường Đại học Giao thông Vận tải TP. Hồ Chí Minh cũng đang mở rộng không gian đào tạo theo định hướng kinh tế biển. Các ngành học như kinh tế vận tải biển, kinh tế hàng hải tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam cũng liên tục được cập nhật chương trình để trang bị cho sinh viên năng lực quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp cảng biển, vận tải biển trong môi trường quốc tế.

Dù có nhiều giải pháp cải thiện chất lượng song, theo đánh giá, nguồn nhân lực kinh tế biển phần lớn là lao động phổ thông, chưa được đào tạo bài bản mà chỉ làm theo kiểu “cha truyền con nối”. Do đó, khả năng tiếp cận tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ của họ còn hạn chế. Cơ cấu nguồn nhân lực cũng chưa có sự cân đối, chủ yếu mới tập trung vào nghề khai thác hải sản truyền thống; lao động trẻ ngày càng rời xa nghề biển để tìm công việc ổn định hơn trên bờ.

Ở khối vận tải biển viễn dương, nghịch lý này còn rõ nét hơn. TS. Bùi Thiên Thu, Phó chủ tịch Hội Cảng - Đường thủy - Thềm lục địa Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Đường thủy nội địa Việt Nam dẫn chứng, Việt Nam hiện có trên 60.000 thuyền viên sở hữu chứng chỉ chuyên môn (CoC) còn hiệu lực, trong đó khoảng 15.000-20.000 người đang làm việc trên các tàu treo cờ nước ngoài. Mặc dù về số lượng cơ bản đáp ứng nhu cầu trong nước, nhưng chất lượng nguồn nhân lực vẫn còn những bất cập. Thực tế cho thấy ngành hàng hải đang đối mặt với nghịch lý “thừa số lượng nhưng thiếu chất lượng”, đặc biệt là sự thiếu hụt đội ngũ sĩ quan quản lý, thuyền viên có trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của thị trường hàng hải quốc tế.

Theo phản ánh từ đại diện một doanh nghiệp vận tải biển, mỗi năm đơn vị phải tuyển mới tới 40% đội ngũ thuyền viên chỉ để bù đắp lượng nhân sự dịch chuyển sang làm việc cho các chủ tàu nước ngoài với mức lương cao gấp 2-3 lần thị trường trong nước, dù bản thân mức lương thuyền viên trong nước đã tăng gần 30% so với năm 2020. Đây không phải câu chuyện riêng của Việt Nam: Phòng Thương mại Vận tải biển Quốc tế (ICS) dự báo thế giới sẽ thiếu hụt khoảng 90.000 thủy thủ được đào tạo bài bản ngay trong năm 2026, khiến cuộc cạnh tranh thu hút thuyền viên có tay nghề giữa các quốc gia, các chủ tàu ngày càng khốc liệt và Việt Nam, với đội ngũ thuyền viên đông nhưng chưa đồng đều về chất lượng, đang chịu tác động trực tiếp từ làn sóng cạnh tranh toàn cầu này.

Ứng dụng công nghệ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế biển

Ứng dụng công nghệ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế biển

Cơ chế liên kết 3 bên cần thực chất hơn

Có thể thấy, bài toán nhân lực kinh tế biển của Việt Nam không thể giải quyết trong ngắn hạn bởi đặc thù đào tạo nhân lực hàng hải, nuôi biển công nghệ cao hay vận hành hạ tầng cảng thông minh đều đòi hỏi thời gian tích lũy kỹ năng, chứng chỉ quốc tế và kinh nghiệm thực tế kéo dài nhiều năm. Trong khi các dòng vốn, các dự án cảng biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi đang được thúc đẩy với tốc độ nhanh chưa từng có, nếu nguồn nhân lực không được chuẩn bị đón đầu ngay từ bây giờ, nguy cơ “có tiền, có hạ tầng nhưng thiếu người vận hành” hoàn toàn có thể trở thành điểm nghẽn mới của kinh tế biển trong những năm tới. Đầu tư cho con người, vì vậy, cần được nhìn nhận không phải là chi phí đi kèm, mà là điều kiện tiên quyết, quyết định liệu giấc mơ “mạnh về biển, giàu từ biển” có thể cán đích đúng hẹn vào năm 2030 hay không, một chuyên gia nhận định.

Để khai thác hiệu quả lợi thế từ biển, ngoài hạ tầng và nguồn lực đầu tư, địa phương cần có tầm nhìn phát triển dài hạn, nguồn nhân lực chất lượng cao và trình độ khoa học - công nghệ đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Muốn giải quyết căn cơ bài toán nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế biển, cần xây dựng cơ chế liên kết chặt chẽ giữa 3 chủ thể gồm cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp; gắn phát triển kinh tế biển với nâng cao dân trí, đào tạo nghề, đào tạo kỹ sư và lao động kỹ thuật phục vụ các lĩnh vực logistics, chế biến thủy hải sản, năng lượng tái tạo và kinh tế xanh.

Bên cạnh đó, một chuyên gia cho rằng, các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh các ngành nghề liên quan đến biển - nơi sử dụng nguồn nhân lực cần chủ động liên kết với các trường nghề để đào tạo học viên gắn với cam kết bố trí việc làm ngay sau tốt nghiệp, đi kèm chính sách học bổng và cải thiện chế độ đãi ngộ, tiền lương… nhằm giữ chân người lao động trước sức hút của các đội tàu nước ngoài. Về phía cơ sở đào tạo, xu hướng mở rộng không gian đào tạo gắn với thực tiễn sản xuất; tăng cường ứng dụng công nghệ trong đào tạo để nguồn nhân lực bắt kịp xu hướng; hình thành đội ngũ giảng viên nguồn về quy hoạch không gian biển; chuyển từ tư duy đào tạo theo chỉ tiêu sang đào tạo theo nhu cầu thực tế của thị trường lao động biển, kể cả những lĩnh vực mới như kinh tế biển xanh, quản trị đại dương.

Khánh Tiên

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/cung-co-suc-manh-cua-bien-tu-nguon-nhan-luc-185159.html