Cung ứng vốn khơi thông nguồn lực cho các tập đoàn kinh tế
Đối với các tập đoàn kinh tế (Nhà nước và khu vực tư nhân), việc khơi thông nguồn lực, gồm các dòng vốn đang có vai trò quyết định góp phần đảm bảo mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026 - 2030.
Nỗ lực cung ứng vốn cho nền kinh tế

Hội thảo phát triển doanh nghiệp chiều 13/4 đưa ra những khung khổ pháp lý và nhận diện các rào cản để đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả các Nghị quyết của Bộ Chính trị.
Bộ Chính trị đã ban hành hành loạt Nghị quyết chiến lược, trong đó nổi bật Nghị quyết 57-NQ/TW về phát triển khoa học công nghệ, Nghị quyết 68-NQ/TW về thúc đẩy kinh tế tư nhân (KTTN) và Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước… nhằm xây dựng các Tập đoàn kinh tế hàng đầu, dần vươn tầm thế giới, có vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, hỗ trợ sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNN&V), gia tăng nội lực của nền kinh tế.

Ông Nguyễn Ngọc Cảnh, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã bày tỏ sự cam kết cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế. Ảnh: A Huy.
Tại Hội thảo "40 năm Đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các Tập đoàn kinh tế" do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức chiều 13/4, các chuyên gia đã có những chia sẻ, đánh giá vai trò dẫn dắt và khuyến nghị chính sách phát triển mạnh mẽ các Tập đoàn kinh tế.
Đề cập về tín dụng cho các tập đoàn kinh tế, tạo động lực tăng trưởng 2 con số cho nền kinh tế, bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) cho biết, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách khác góp phần ưu tiên hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.
Kết quả tín dụng giai đoạn 2021 - 2025 tăng trưởng tốt (bình quân tăng khoảng 15,15%/năm), đến cuối năm 2025 đạt gần 18,6 triệu tỷ đồng, tăng 19,07%. Trong đó, dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp trong nước chiếm khoảng 48% tổng dư nợ nền kinh tế; dư nợ đối với các Tập đoàn, Tổng công ty chiếm khoảng 7% tổng dư nợ nền kinh tế; phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, cung ứng vốn tín dụng kịp thời cho người dân, doanh nghiệp.
“Cùng với các nguồn vốn khác, tín dụng ngân hàng đã cung cấp nguồn tài chính thiết yếu để triển khai nhiều dự án, công trình quan trọng, trọng điểm quốc gia của các Tập đoàn, Tổng công ty, góp phần thay đổi diện mạo hạ tầng của địa phương, quốc gia, nâng cao năng lực sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam trong các lĩnh vực trọng yếu như: Hạ tầng điện, giao thông, hàng không…, qua đó góp phần thực hiện một trong 3 đột phá chiến lược của Đảng về phát triển hạ tầng”, bà Phạm Thị Thanh Tùng cho biết.
Cụ thể, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã cấp tín dụng đối với nhiều dự án quan trọng, có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế như: Thủy điện Sơn La, Thủy điện Lai Châu, Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch I, đường dây 500kV Bắc - Nam, chuỗi dự án khí điện Lô B; cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận, cao tốc Gia Nghĩa - Chơn Thành, nâng cấp tuyến đường Pháp Vân - Cầu Giẽ, dự án Hòa Phát - Dung Quất… Theo NHNN, nguồn vốn tín dụng ngân hàng cơ bản đã đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh của các Tập đoàn, Tổng công ty.

Phó Chủ tịch HĐQT, Phó Tổng Giám đốc SHB Đỗ Quang Vinh chia sẻ tại Hội thảo chiều 13/4.
Chia sẻ bài tham luận “SHB - Kết nối nguồn lực, kiến tạo hệ sinh thái phát triển”, Phó Chủ tịch HĐQT, Phó Tổng Giám đốc SHB Đỗ Quang Vinh cho biết, ngay từ sớm, ngân hàng đã lựa chọn gắn sự phát triển của mình với các lĩnh vực nền tảng của nền kinh tế. Đó là năng lượng, khai khoáng, nông nghiệp công nghiệp, hạ tầng, hóa chất, thương mại và xuất khẩu. Đây là những lĩnh vực có ý nghĩa cốt lõi đối với tăng trưởng, với ổn định sản xuất, với an ninh nguyên liệu và với năng lực tự chủ của nền kinh tế.
“Khi kinh tế bước sang giai đoạn cần những doanh nghiệp lớn, những Tập đoàn, Tổng công ty có vai trò dẫn dắt tăng trưởng, SHB tiếp tục khẳng định lựa chọn chiến lược bằng việc hợp tác, cung ứng sản phẩm và dịch vụ cho nhiều đối tác lớn như: Tập đoàn TKV, VRG, Tasco, Vinachem, BSR và nhiều doanh nghiệp đầu ngành khác”, ông Đỗ Quang Vinh cho biết.
Một bước chuyển quan trọng trong hành trình phát triển của SHB là mở rộng vai trò từ cấp tín dụng sang đồng hành bằng giải pháp tài chính tổng thể. SHB không chỉ cung ứng vốn, mà còn phát triển các giải pháp thanh toán, quản lý dòng tiền, tài trợ chuỗi cung ứng, giải pháp số và đồng hành cùng vận hành tài chính tổng thể của doanh nghiệp.
“Khi SHB hỗ trợ đúng các ngành nền tảng, các doanh nghiệp đầu tàu và các hệ sinh thái có sức lan tỏa, dòng vốn được dẫn dắt đúng trọng tâm hơn, nguồn lực được phân bổ hiệu quả hơn, chuỗi cung ứng vận hành tốt hơn, doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh hơn, và từ đó giá trị lan tỏa sang cả nền kinh tế. SHB không chỉ đồng hành cùng khách hàng, mà gián tiếp đóng góp vào tăng trưởng Quốc gia”, lãnh đạo SHB cho hay.

Để vận hành mô hình ecosystem ở quy mô lớn, SHB xác lập chiến lược công nghệ tài chính với 5 FIRST làm nền tảng: Data + AI First, People First, Cloud First, Security First, Mobile First.
Trung tâm của chiến lược tương lai của SHB là ecosystem (hệ sinh thái). SHB không tiếp cận khách hàng theo từng đơn vị riêng lẻ, mà theo toàn bộ hệ sinh thái xoay quanh khách hàng trung tâm. Từ một tập đoàn hay doanh nghiệp đầu chuỗi, SHB mở rộng sang công ty thành viên, nhà cung cấp, nhà phân phối, đại lý, đối tác, người lao động và khách hàng cuối. Như vậy, mỗi quan hệ hợp tác lớn tạo ra tăng trưởng tín dụng và mở ra một không gian tăng trưởng đa tầng cho ngân hàng.
Chiến lược này cho phép SHB không chỉ tăng trưởng theo chiều rộng của số lượng khách hàng mà còn tăng trưởng theo chiều sâu của hệ sinh thái khách hàng. Đây là mô hình phát triển có độ bền cao hơn, tính liên kết cao hơn và khả năng lan tỏa lớn hơn so với mô hình ngân hàng giao dịch truyền thống.
Gỡ rào cản thế chế, khơi thông mọi nguồn lực
Theo bà Phạm Thị Thanh Tùng, hoạt động tín dụng ngân hàng vẫn đang gặp một số khó khăn như: Sức ép cung ứng vốn cho nền kinh tế của hệ thống ngân hàng vẫn lớn (tỷ lệ tín dụng/GDP khoảng 144%) trong bối cảnh thị trường tài chính phát triển chưa cân xứng, nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế xã hội tăng cao, trong khi huy động vốn từ thị trường trái phiếu doanh nghiệp, chứng khoán gặp nhiều khó khăn.
Mặt khác, nhu cầu vốn trung, dài hạn cho các dự án, công trình trọng điểm Quốc gia rất lớn, tạo áp lực cho các TCTD trong cung ứng vốn tín dụng để thực hiện dự án, cũng như rủi ro kỳ hạn cho các TCTD do nguồn vốn chính để các TCTD thực hiện cho vay chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn ngắn (chiếm 80% tổng tiền gửi của các TCTD).
Một số chương trình tín dụng đối với ngành, lĩnh vực còn gặp khó trong triển khai như Chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết 33/NQ-CP của Chính phủ khó khăn do nguồn cung nhà ở xã hội còn hạn chế.
“Các Tập đoàn thường có quy mô lớn và tính chất đa ngành, các dự án triển khai thuộc nhiều lĩnh vực như bất động sản, năng lượng, hạ tầng, công nghiệp chế biến…, đòi hỏi các ngân hàng phải có hiểu biết chuyên sâu đa ngành để đánh giá hiệu quả đầu tư, khả năng hoàn vốn cũng như các yếu tố rủi ro đặc thù nên tạo áp lực lớn đối với việc thẩm định của các TCTD. Bên cạnh đó, các dự án này thường có thời gian thu hồi vốn dài, chịu tác động mạnh của các yếu tố như quy hoạch, chính sách đất đai, giá nguyên vật liệu hoặc biến động lãi suất nên tiềm ẩn rủi ro tín dụng”, bà Phạm Thị Thanh Tùng chia sẻ.
Ngoài ra, tại một số Tập đoàn Nhà nước còn tồn tại tình trạng quản trị chưa theo kịp chuẩn mực thị trường, hiệu quả sử dụng vốn thấp, đầu tư dàn trải, chậm đổi mới công nghệ và năng lực cạnh tranh còn hạn chế. Điều này đã tác động trực tiếp đến hoạt động tín dụng, khi các TCTD phải đối mặt với rủi ro nợ xấu cao hơn, đồng thời gặp khó trong việc thẩm định và quyết định cấp tín dụng dựa trên nguyên tắc thị trường.
Trước thực trạng cảnh này, NHNN sẽ tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối nhằm mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, tiệm cận với thông lệ quốc tế, minh bạch, an toàn cho TCTD.
“NHNN chỉ đạo các TCTD hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế...; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; đa dạng hóa sản phẩm tín dụng ngân hàng phù hợp từng loại hình, nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; chú trọng đầu tư tín dụng vào các dự án, công trình trọng điểm, khả thi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp; chuyển đổi số tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng, doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế... tiếp cận nguồn vốn tín dụng và dịch vụ ngân hàng”, bà Phạm Thị Thanh Tùng cho biết.
Bên cạnh đó, tích cực tổ chức triển khai thực hiện các Nghị quyết, chủ trương, chính sách lớn của Đảng (về tam nông, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, phát triển KTTN, y tế, giáo dục, năng lượng…); trong đó, đầu mối phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định về hỗ trợ lãi suất 2%/năm cho các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh vay vốn để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG).
Nhiều chuyên gia cho rằng, môi trường kinh doanh thông thoáng để hỗ trợ doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế phát huy được các thế mạnh của mình, đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số của cả nước là rất quan trọng.

Huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực tài chính cho các tập đoàn kinh tế trong bối cảnh mới.
Đó là, tháo gỡ căn bản các rào cản về thể chế, khơi thông và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong toàn nền kinh tế, qua đó thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế; đẩy mạnh phát triển thị trường vốn, đặc biệt thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán theo hướng minh bạch, an toàn, bền vững, nhằm tăng khả năng huy động vốn trung và dài hạn, từng bước giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng; cùng với đó là đa dạng hóa nguồn lực đầu tư đối với các dự án lớn, công trình trọng điểm quốc gia (kết hợp nhiều nguồn lực như NSNN, vốn tư nhân, hợp tác công tư và các nguồn vốn dài hạn khác).
Việc đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới; phát huy vai trò của thị trường trong nước, thúc đẩy tiêu dùng và xuất khẩu, mở rộng thị trường, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
“Tiếp tục thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ các nút thắt trong đầu tư, kinh doanh để tăng khả năng hấp thụ vốn tín dụng của nền kinh tế, tạo điều kiện cho các TCTD có định hướng đầu tư tín dụng cho các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế phù hợp”, bà Phạm Thị Thanh Tùng đề xuất.











