Cuộc chiến với Iran phơi bày giới hạn sức mạnh quân sự Mỹ thế nào?

Cuộc chiến với Iran giúp Mỹ phô diễn sức mạnh quân sự chưa từng có, nhưng cũng bộc lộ những điểm yếu chiến lược, buộc Washington phải định hình lại vai trò an ninh tại Trung Đông.

Tàu sân bay USS Carl Vinson của Mỹ. Ảnh: Yonhap/TTXVN

Tàu sân bay USS Carl Vinson của Mỹ. Ảnh: Yonhap/TTXVN

Trong bình luận đăng trên tạp chí Foreign Affairs ngày 17/6, chuyên gia Dana Stroul, Giám đốc Nghiên cứu tại Viện Chính sách Trung Đông Washington, cựu quan chức Bộ Quốc phòng Mỹ phụ trách khu vực Trung Đông giai đoạn 2/2021–12/2023 nhận định rằng, trong suốt Chiến dịch Epic Fury (Cơn Cuồng nộ Dữ dội), Washington liên tục phô trương ưu thế quân sự thông thường. Chính quyền Tổng thống Donald Trump công bố hàng loạt kết quả: Trước lệnh ngừng bắn ngày 8/4, riêng Mỹ đã thực hiện hàng nghìn phi vụ, tấn công hơn 130.000 mục tiêu và đánh chặn 1.700 tên lửa cùng thiết bị bay không người lái (UAV) của Iran. Theo Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ, chiến dịch phá hủy hơn 85% cơ sở sản xuất tên lửa và UAV của Tehran, đánh chìm nhiều tàu chiến Iran và loại bỏ 70% cơ sở hạ tầng phóng tên lửa của nước này.

Những khoảng trống chiến lược bộc lộ

Tuy nhiên, chuyên gia Stroul nhấn mạnh, những thành tựu quân sự đó không đồng nghĩa với thắng lợi chiến lược. Tổng thống Trump từng tuyên bố muốn Iran "thất bại hoàn toàn" và đạt được một thỏa thuận hạt nhân tốt hơn thỏa thuận mà Tổng thống Mỹ Barack Obama ký năm 2015. Nhưng tất cả những mục tiêu đó vẫn xa vời khi Tehran tiếp tục tồn tại và thích nghi, gây áp lực nặng nề lên kho vũ khí Mỹ, thách thức cơ sở hạ tầng quân sự của Washington ở khắp Trung Đông, phong tỏa eo biển Hormuz và gây áp lực lên nền kinh tế toàn cầu.

Mặc dù có một số thành công về mặt tác chiến, chuyên gia Stroul lưu ý cuộc xung đột đã phơi bày những thiếu sót nghiêm trọng của Mỹ. Lầu Năm Góc đã không xây dựng được một liên minh chiến đấu từ trước, cũng không chứng minh được trên trường quốc tế rằng Iran là "mối đe dọa hiện hữu", khiến Mỹ phải vật lộn để tạo đồng thuận quốc tế.

Quan trọng hơn, xung đột đã làm cạn kiệt kho vũ khí của Mỹ một cách nguy hiểm. Theo chiến lược gia quốc phòng Mackenzie Eaglen, quân đội Mỹ đã bắn hơn 1.000 tên lửa hành trình Tomahawk chỉ trong vài tuần, trong khi năng lực sản xuất chỉ đạt từ 90 đến 100 quả mỗi năm. Theo Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), từ ngày 28/ - 8/4, Mỹ đã tiêu tốn ít nhất 190 tên lửa đánh chặn THAAD và 1.060 tên lửa đánh chặn Patriot - chiếm lần lượt khoảng 53% và 46% tổng số tên lửa đánh chặn trước chiến tranh.

Quan trọng nhất, cuộc chiến đã làm suy yếu vị thế của Mỹ với tư cách là nhà bảo đảm an ninh chính ở Trung Đông. Trong nhiều thập kỷ, chính sách của Mỹ đối với Iran tập trung vào ba trụ cột sức mạnh của Iran: chương trình hạt nhân, kho vũ khí tên lửa và mạng lưới các lực lượng dân quân thân Tehran.

Tuy nhiên, việc làm suy yếu từng trụ cột này vẫn chưa mang lại kết quả chiến lược. Trong suốt Chiến dịch Epic Fury, quân đội các nước Trung Đông tiếp tục dựa vào Mỹ để được hỗ trợ phòng không và tình báo. Nhưng Washington không thể hoàn toàn vô hiệu hóa các cuộc tấn công trả đũa từ Iran, phá vỡ danh tiếng của vùng Vịnh như một nơi an toàn và thân thiện với doanh nghiệp. Washington cũng không thể kiềm chế hiệu quả Iran khi nước này quyết định chặn hoạt động tự do hàng hải qua tuyến đường thủy quan trọng nhất trong khu vực.

Trong một nghịch lý cay đắng, cuộc chiến với Iran đã làm xuất hiện những cơ hội để Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ hợp tác hiệu quả hơn với các lực lượng quân sự trong khu vực. Nhưng sự thiếu tin tưởng giữa Mỹ và các đối tác vùng Vịnh khiến việc tận dụng những cơ hội đó trở nên khó khăn hơn nhiều. Các quốc gia vùng Vịnh cần những cam kết an ninh rõ ràng hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, các quốc gia này đang mất dần niềm tin rằng Washington thực sự cam kết đảm bảo an ninh cho họ, và cả công chúng Mỹ lẫn các nhà lãnh đạo chính trị Mỹ đều không còn mặn mà với công việc tốn kém và kéo dài để đối phó với những thách thức từ Iran.

Iran thích nghi và thay đổi chiến lược

Sau cuộc chiến 12 ngày (tháng 6/2025), Tehran đã rút ra những bài học quan trọng. Thứ nhất, họ nhận thấy rằng cấu trúc ra quyết định quá tập trung đã làm chậm khả năng phản ứng hiệu quả trước các cuộc tấn công của Mỹ và Israel, đặc biệt là khi Israel và Mỹ nhắm mục tiêu vào các nhà lãnh đạo cấp cao và mạng lưới thông tin liên lạc của họ. Thứ hai, họ nhận thấy rằng việc tập trung phần lớn sự trả đũa vào các cuộc tấn công tên lửa vào Israel, cùng với một cuộc tấn công mang tính biểu tượng duy nhất vào căn cứ al-Udeid của Mỹ ở Qatar sẽ không ngăn cản được Israel hay Mỹ ngừng tiến hành các hoạt động quân sự, hoặc khiến Qatar và các nước vùng Vịnh khác lo ngại đến mức áp đặt hạn chế Washington sử dụng lãnh thổ hoặc không phận của họ.

Vì vậy, Tehran chuyển sang phân cấp chỉ huy và kiểm soát, phân tán lực lượng vào các mạng lưới ngầm phi tập trung. Điều này đảm bảo bộ máy vẫn hoạt động ngay cả khi các cơ sở đầu não bị vô hiệu hóa. Họ còn sử dụng UAV không chỉ để tấn công trực tiếp mà còn để làm cạn kiệt kho vũ khí đánh chặn của đối phương, đồng thời thăm dò phạm vi phủ sóng radar. Những cuộc tấn công này thường gây ra ít thiệt hại vật chất, nhưng chúng gây ra gánh nặng hoạt động và buộc Mỹ cùng các đối tác phải chuyển sang thế phòng thủ tốn nhiều nguồn lực. Đáng chú ý, Iran đã phong tỏa eo biển Hormuz - tuyến đường thủy chiếm 20% lượng vận chuyển dầu thô thế giới - bằng cách dùng tàu nhỏ, thủy lôi và lực lượng tấn công ven biển, gây gián đoạn thương mại và đẩy chi phí bảo hiểm hàng hải leo thang.

Dự án Tự do - nỗ lực mở lại eo biển Hormuz - đã cho thấy các mối quan hệ đối tác quân sự của Mỹ dễ bị tổn thương không chỉ bởi áp lực chính trị từ Mỹ mà còn bởi áp lực chính trị từ các quốc gia vùng Vịnh. Sau khi quân đội Mỹ thành công trong việc hướng dẫn hai tàu thương mại ra khỏi eo biển vào ngày 4/5 để thách thức sự phong tỏa của Tehran, Iran đã tấn công một cảng dầu của UAE để báo hiệu sự sẵn sàng tấn công các lợi ích năng lượng của vùng Vịnh, cũng như đã nhắm mục tiêu (dù không thành công) vào hai tàu khu trục của Hải quân Mỹ để thăm dò sự sẵn sàng quay trở lại chiến tranh của chính quyền Trump. Tuy nhiên, Tổng thống Trump vẫn khẳng định lệnh ngừng bắn vẫn còn hiệu lực và không đáp trả các cuộc tấn công của Iran ngoài việc bảo vệ các tàu hải quân của mình.

Chuyên gia Stroul cho rằng qua những vấn đề trên, Mỹ cần thực hiện nhiều thay đổi mang tính hệ thống. Về công nghiệp quốc phòng, Mỹ cần đẩy nhanh mua sắm, giảm rào cản chuyển giao công nghệ và mời các đối tác vùng Vịnh tham gia các thỏa thuận đồng sản xuất, đồng phát triển. Về bố trí lực lượng, Lầu Năm Góc cần đẩy nhanh triển khai lực lượng thường trực luân phiên khắp khu vực. Về quan hệ đối tác, Washington cần chuyển từ vai trò người bảo đảm an ninh duy nhất sang vai trò điều phối viên an ninh trong một hệ thống chia sẻ gánh nặng cân bằng hơn. Chuyên gia Stroul kết luận: nếu thất bại trong việc đạt được các mục tiêu chiến lược lớn mà Tổng thống Trump đã đặt ra, và không thực hiện những thay đổi mang tính hệ thống trong quan hệ với các đối tác khu vực, Chiến dịch Epic Fury sẽ chỉ là một "màn phô trương sức mạnh quân sự lớn, đồng thời mở ra một Trung Đông hậu Mỹ".

Công Thuận/Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/phan-tichnhan-dinh/cuoc-chien-voiiran-phoi-bay-gioi-han-suc-manh-quan-su-my-the-nao-20260618112116787.htm