Cuốn sách của ba
HNN - Tôi chưa từng thấy ba đọc nhiều sách. Sau 1975, ba trút bỏ bộ đồ lính quân y của chế độ cũ, trở về nhà với công việc của một người y tá 'tư' với túi xách đựng nào ống nghe, máy đo huyết áp, mấy chai dịch truyền, vài lọ thuốc thông thường, hàng ngày đạp xe khắp làng trên xóm dưới đến từng nhà thân chủ khám và chữa bệnh. Từ ngày ấy, ba đã làm công việc 'home care' của một 'bác sĩ gia đình', một công việc, một chức danh mà mãi sau này tôi mới được học, tiếp cận và thấy đang dần được áp dụng trong thực hành y tế Việt Nam. Nghỉ ngơi sau một ngày làm việc bận rộn, ba cầm lên những cuốn sách ít ỏi của mình: Bộ sách giáo khoa Anh ngữ Thực dụng 'English For Today' do Giáo sư Lê Bá Kông dịch, rất nổi tiếng thời đó. Ba dạy tiếng Anh cho chị em tôi.

Hồi trước năm 1975, khi còn làm trong bệnh viện, mỗi tối ba đều đặn đến lớp học tiếng Anh ở Hội Việt - Mỹ. Cả lớp ba tôi lớn tuổi nhất. Mạ tôi có lần hỏi: “Ba mi học chi mà học dữ rứa?”. Ba cười trả lời: “Tui học để sau này dạy lại cho con”.
Thời ấy đời sống vô cùng khốn khó, không có phấn trắng, bảng đen. Lớp học của chị em tôi là nền nhà được quét sạch sẽ. Phấn là những viên gạch hồng nhỏ thu lượm ngoài vườn. Ba dạy từ vựng, mỗi từ chúng tôi lấy gạch viết mười lần trên nền nhà, vừa viết vừa phát âm. Học xong từ nào lại lấy giẻ chùi sạch để học từ mới. Cuối buổi, ba dò bài và chốt lại những từ đã học. Kho từ vựng tiếng Anh của chị em tôi đầy lên từng ngày như thế. Ngoài ra, ba còn dạy ngữ pháp, dạy nói những câu giao tiếp thông dụng, và chị em tôi cũng tập những tình huống hội thoại. Tưởng chừng như mới đây thôi, tôi vẫn còn nhớ như in “lớp học” mỗi chiều thuở ấy, ba con tôi cày chữ trên nền nhà, tiếng Anh mắt chữ o mồm chữ a. Ông nội tôi đem những cây đèn dầu ra chêm thêm dầu hỏa và chùi bóng đèn. Khi đêm dần buông, ông nội thắp sáng hết các cây “đèn bỏng” thì cũng đến giờ tan học.
Dạy đến chừng hơn một năm thì ba hết vốn liếng, nên tìm thầy “dạy nâng cao” cho chị em tôi. Người thầy thứ hai của chúng tôi, chính là thầy Vĩnh Bá, nhà ở phủ Hoài Đức gần với xóm Bờ Sông Hương của tôi. Năm ấy, thầy vừa từ Trường Vinh Lộc chuyển lên thành phố. Sau này thầy là giáo viên nổi tiếng của Trường Hai Bà Trưng và Quốc Học, nơi mà tất cả chị em tôi đều là “dân chuyên Anh” tiếp tục được thọ giáo với thầy.
Vì học chuyên Anh nên năm đầu tiên thi đại học, tôi nộp đơn vào sư phạm Anh và y khoa Huế. Năm đó, tôi đậu á khoa sư phạm nhưng y khoa thì thiếu 1,5 điểm. Tiếc học bổng, tôi vào học sư phạm Anh văn. Mỗi ngày đi học về, tôi cảm nhận nỗi buồn của ba “vì không có người kế nghiệp”. Thế là sau một năm, tôi quyết định bỏ sư phạm, ở nhà luyện thi một năm nữa và lần này thi đậu vào y khoa. Hóa ra nghề y là nghề mà ba đang phụng sự và mong con cái cũng theo bước mình. Ba nói, tiếng Anh chỉ là cái nền mà ai, nghề nào cũng phải cần. Ba đã “tân tiến” từ những ngày đói kém ấy rồi!
Năm 1993, tôi dự thi thơ và đoạt giải Ba cuộc thi văn học “Tác phẩm tuổi xanh” của Báo Tiền Phong. Ngoài tặng thưởng là chiếc đồng hồ treo tường hiệu Seiko mà đến nay “vẫn còn chạy tốt”, tôi trích một phần tiền thưởng mua cuốn tự điển Y học Anh - Việt. Tôi đưa cuốn tự điển về khoe với ba, ba rất vui và viết mấy dòng “chúc mừng”. Hôm rồi, dọn tủ sách, cầm trên tay cuốn tự điển đôi chỗ rách sờn, có những nét chữ chân phương của ba, chợt nhớ thương ba vô cùng.
Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/van-hoa-nghe-thuat/cuon-sach-cua-ba-164946.html











