Đa dạng thị trường, nâng cao giá trị để thúc đẩy xuất khẩu nông sản
Xuất khẩu nông sản đóng góp tích cực vào tăng trưởng thương mại và cán cân xuất nhập khẩu của Việt Nam.
Trong bối cảnh thị trường thế giới nhiều biến động và tiêu chuẩn nhập khẩu ngày càng khắt khe, việc chuyển đổi từ xuất khẩu theo chiều rộng sang gia tăng giá trị và đa dạng hóa thị trường đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Đây là nội dung được đại biểu nhấn mạnh tại Diễn đàn Xuất khẩu nông sản do Công ty Quảng cáo và Triển lãm Minh Vi phối hợp Cục Phát triển Thị trường nước ngoài (Bộ Công Thương) tổ chức ngày 10/6 tại TP. Hồ Chí Minh.
Ông Phùng Văn Thành, Vụ Phát triển Thị trường nước ngoài thông tin, giai đoạn 2020-2025, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam liên tục duy trì đà tăng trưởng; trong đó nhóm hàng nông lâm thủy sản đóng góp quan trọng. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đã mang về hơn 70 tỷ USD. Việt Nam hiện sở hữu hệ sinh thái nông nghiệp phong phú với nhiều mặt hàng có vị thế hàng đầu thế giới như gạo, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, cao su, rau quả, tôm và cá tra. Nhiều sản phẩm đã xây dựng được thương hiệu và uy tín trên thị trường quốc tế, xuất khẩu tới hàng trăm quốc gia và vùng lãnh thổ với các thị trường trọng điểm gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh châu Âu (EU), ASEAN và Trung Đông.
Bên cạnh đó, việc tham gia hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP)… đã tạo lợi thế cạnh tranh đáng kể cho nông sản Việt Nam thông qua ưu đãi thuế quan và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường.
“Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu cũng đang đối mặt với nhiều sức ép mới. Xuất khẩu nông sản hiện vẫn tập trung vào một số thị trường lớn, tiềm ẩn rủi ro khi các đối tác thay đổi chính sách hoặc nhu cầu suy giảm. Tỷ trọng sản phẩm tươi và xuất khẩu thô còn cao, trong khi năng lực chế biến sâu và giá trị gia tăng còn hạn chế. Hạ tầng logistics chưa đồng bộ, chi phí vận chuyển cao làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp”, ông Phùng Văn Thành nêu thực tế.
Ngoài ra, các yêu cầu về sản xuất xanh, giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch động thực vật và an toàn thực phẩm ngày càng khắt khe. Xu hướng áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại và biến động địa chính trị toàn cầu cũng đang tác động trực tiếp đến chuỗi cung ứng và hoạt động xuất khẩu của Việt Nam.
Theo định hướng của Bộ Công Thương, để đạt mục tiêu xuất khẩu nông sản khoảng 74 tỷ USD trong năm 2026, Việt Nam cần tiếp tục duy trì các thị trường truyền thống, đồng thời mở rộng sang các thị trường mới nổi tại Nam Á, Đông Âu, châu Phi và châu Đại Dương nhằm đa dạng hóa thị trường và giảm phụ thuộc vào một số đối tác lớn. Song song đó là tái cơ cấu sản xuất theo nhu cầu thị trường, đẩy mạnh liên kết giữa sản xuất - chế biến - tiêu thụ, nâng cao năng lực chế biến sâu, tăng tỷ trọng sản phẩm có giá trị gia tăng cao, bảo đảm chất lượng và truy xuất nguồn gốc, đồng thời tận dụng hiệu quả các ưu đãi từ các Hiệp định Thương mại tự do (FTA).
Chia sẻ thông tin thị trường Nhật Bản, ông Vũ Cường, Tham tán Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam tại Nhật Bản cho biết, đây là một trong những thị trường nhập khẩu nông lâm thủy sản lớn nhất thế giới, với nhu cầu cao đối với các mặt hàng như thủy sản, rau quả tươi và chế biến, ngũ cốc, cà phê, thịt và các sản phẩm từ thịt. Dù vậy, Việt Nam mới chỉ đứng thứ 6 trong các nước cung ứng nông sản cho Nhật Bản chiếm khoảng 4,7% tổng kim ngạch nhập khẩu của thị trường này, cho thấy dư địa phát triển còn rất lớn.
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam sang Nhật Bản đạt gần 4,93 tỷ USD, tăng 20% so với năm trước và là mức cao nhất trong giai đoạn 2020-2025; trong đó, gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản và cà phê là ba nhóm hàng chủ lực. Bên cạnh đó, các mặt hàng rau quả, trái cây tươi, rau quả đông lạnh, hạt chế biến, cà phê và hạt điều đều có triển vọng mở rộng thị phần.
Động lực tăng trưởng đến từ việc Chính phủ Nhật Bản tiếp tục triển khai các gói kích thích kinh tế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa, đặc biệt đối với nhóm thực phẩm an toàn và có nguồn gốc rõ ràng. Người tiêu dùng Nhật Bản ngày càng ưu tiên các sản phẩm xanh, hữu cơ và bền vững, tạo cơ hội cho những doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng được các tiêu chuẩn như GAP, HACCP hoặc JAS.
Tuy nhiên, Nhật Bản cũng là thị trường nổi tiếng với các quy định nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm và chất lượng sản phẩm. Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam cần thường xuyên cập nhật quy định mới, kiểm soát chất lượng xuyên suốt từ sản xuất, chế biến đến phân phối; đồng thời bảo đảm nguồn cung ổn định cả về số lượng và giá cả.
Theo ông Vũ Cường, bên cạnh việc nâng cao chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp cần chú trọng đầu tư công nghệ bảo quản và chế biến, đẩy mạnh chuyển đổi xanh, phát triển sản phẩm hữu cơ và tăng cường hợp tác với các đối tác Nhật Bản trong chuỗi sản xuất. Việc lựa chọn đúng kênh phân phối, thiết kế bao bì phù hợp với văn hóa tiêu dùng bản địa, tích cực tham gia hội chợ, triển lãm và xây dựng thương hiệu cũng là những yếu tố quan trọng giúp mở rộng thị phần tại thị trường này.
Nếu Nhật Bản là thị trường đòi hỏi chất lượng cao thì Hàn Quốc được xem là thị trường yêu cầu doanh nghiệp phải thay đổi tư duy tiếp cận. Ông Bùi Hải Nam, Tham tán Nông nghiệp Việt Nam tại Hàn Quốc nhấn mạnh, điều quan trọng không chỉ là gia tăng kim ngạch xuất khẩu mà là tạo dựng vị thế bền vững trong chuỗi cung ứng của thị trường này. Mỗi năm, Hàn Quốc nhập khẩu gần 50 tỷ USD nông lâm thủy sản, trong khi kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam mới đạt hơn 2,3 tỷ USD, chiếm tỷ trọng còn khá khiêm tốn. Việt Nam vẫn còn nhiều lợi thế về khoảng cách địa lý, các hiệp định thương mại tự do và quan hệ hợp tác song phương để gia tăng thị phần.
Mặc dù vậy, Hàn Quốc là thị trường có nhiều nguồn cung thay thế. Do đó, nông sản Việt Nam cần tạo sự khác biệt thông qua chất lượng ổn định, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc minh bạch, bao bì phù hợp và câu chuyện sản phẩm hấp dẫn. Theo ông Bùi Hải Nam, doanh nghiệp cần thay đổi từ tư duy “bán cái mình có” sang “thiết kế cái thị trường cần”, tức là nghiên cứu kỹ phân khúc khách hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật và kênh phân phối trước khi xây dựng sản phẩm.
Thay vì dàn trải nhiều mặt hàng, doanh nghiệp nên tập trung vào một số sản phẩm có lợi thế và đầu tư bài bản từ hồ sơ kỹ thuật, nhãn mác tiếng Hàn, kiểm nghiệm dư lượng, đến các lô hàng thử nghiệm. Đặc biệt, doanh nghiệp cần lưu ý ba đặc điểm của thị trường Hàn Quốc là sức mua cao nhưng thị hiếu thay đổi nhanh; hệ thống bán lẻ hiện đại, thương mại điện tử và chuỗi lạnh phát triển; quy định nghiêm ngặt về kiểm dịch, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.
Để hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu, cần phát huy vai trò của các hiệp hội ngành hàng trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu về giới hạn dư lượng tối đa, hệ thống cảnh báo SPS, mẫu nhãn và kết nối nhà nhập khẩu. Cơ quan quản lý nhà nước cần đẩy mạnh đàm phán mở cửa thị trường, tăng cường cơ chế cảnh báo sớm, quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và hệ thống phòng thử nghiệm đạt chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, các viện nghiên cứu, đơn vị công nghệ và đối tác cần tập trung hỗ trợ doanh nghiệp trong các khâu sau thu hoạch, cấp đông, kéo dài thời hạn bảo quản, cải tiến bao bì, truy xuất nguồn gốc và phát triển sản phẩm phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của Hàn Quốc.
Các chuyên gia cho rằng, trong bối cảnh thương mại toàn cầu thay đổi nhanh chóng, lợi thế về giá không còn là yếu tố quyết định. Năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, khả năng thích ứng với yêu cầu của từng thị trường và xây dựng chuỗi giá trị bền vững mới là nền tảng để nông sản Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh.
Muốn đạt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu trong những năm tới, doanh nghiệp phải là trung tâm của quá trình chuyển đổi nhưng không thể tự đi một mình. Cần có sự đồng hành của các cơ quan quản lý, hiệp hội ngành hàng, các tổ chức nghiên cứu và đối tác quốc tế nhằm hình thành hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện, từ mở cửa thị trường, nâng cao tiêu chuẩn sản xuất đến xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu. Đa dạng hóa thị trường, đẩy mạnh chế biến sâu, phát triển sản xuất xanh và chuyển từ tư duy bán sản phẩm sang cung cấp giải pháp phù hợp với nhu cầu của từng thị trường sẽ là chìa khóa để nông sản Việt Nam tiếp tục mở rộng hiện diện trên bản đồ thương mại toàn cầu.











